- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2022/HNGĐ-ST Ngày 22 tháng 8 năm 2022 V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hòa Thanh
- Các Hội thẩm nhân dân:
. Ông Đỗ Văn Nhã
. Ông Huỳnh Thái Việt
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Qúy Võ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Anh Tài - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 116/2021/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2021, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2022/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2022/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Minh K - sinh năm: 1981; Hộ khẩu thường trú: Thôn TD, xã VB, huyện VN, tỉnh KH. Chỗ ở hiện nay: Thôn PC1B, xã VP, huyện VN, tỉnh KH. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S - sinh năm: 1975; trú tại: Thôn TD, xã VB, huyện VN, tỉnh KH. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 25 tháng 3 năm 2021, Bản tự khai, và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị Minh K trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Minh K và anh Nguyễn Văn S tự nguyện kết hôn vào năm 2004 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã VB, huyện VN, tỉnh KH theo Giấy chứng nhận kết hôn số 10 cấp ngày 27/02/2004. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do giữa vợ chồng có nhiều bất đồng về quan điểm sống, tính tình vợ chồng không hợp và không tôn trọng nhau. Chị K phát hiện anh S có mối quan hệ với người phụ nữ khác trong thời kỳ hôn nhân nên không quan tâm đến gia đình, vợ chồng thường hay xảy ra cãi vã. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài và ngày càng gay gắt nên vợ chồng đã mạnh ai nấy sống, không ai còn quan tâm đến ai. Chị K xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nữa. Chị K yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn S.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Vợ chồng có 03 (ba) con chung là Nguyễn Dong G - sinh ngày 26/9/2002, Nguyễn Nghi D - sinh ngày 10/10/2004, Nguyễn Trọng D - sinh ngày 05/7/2009. Con chung Nguyễn Dong G hiện đã trưởng thành. Các con chung Nguyễn Nghi D, Nguyễn Trọng D hiện đang do chị K chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị K yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 (hai) con chung chưa thành niên cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Vợ chồng không nợ của ai, không ai nợ của vợ chồng.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là anh Nguyễn Văn S đến Tòa để trình bày ý kiến về việc chị K khởi kiện, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng anh S đều không có mặt nên Toà án không lấy được lời khai của anh S, không tiến hành hòa giải được vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh phát biểu ý kiến như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Thị Minh K yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn S - hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn TD, xã VB, huyện VN, tỉnh KH nên căn cứ theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án hôn nhân và gia đình tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Bị đơn anh Nguyễn Văn S đã được Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn S.
Về quan hệ hôn nhân: Mặc dù bị đơn anh Nguyễn Văn S vắng mặt tại phiên tòa, nhưng căn cứ vào lời khai của chị K và các chứng cứ đã thu thập được thì việc kết hôn giữa chị Trần Thị Minh K và anh Nguyễn Văn S là tự nguyện, đăng ký kết hôn số 10 ngày 27 tháng 02 năm 2004 tại Ủy ban nhân dân xã VB, huyện VN, tỉnh KH, nên quan hệ hôn nhân giữa chị K và anh S là hợp pháp.
Căn cứ lời khai của chị K, biên bản xác minh thì vợ chồng chị K, anh S hiện nay không còn sống chung với nhau nữa, vợ chồng không ai quan tâm, chăm sóc cho ai.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh S đến Tòa để giải quyết ly hôn giữa hai người nhưng anh S đều không có mặt, chứng tỏ anh S không còn quan tâm gì về quan hệ hôn nhân này nữa. Về nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa chị Kvà anh S theo chị K trình bày là do tính tình vợ chồng không hợp, không tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau. Trong thời kỳ hôn nhân, anh S có mối quan hệ với người phụ nữ khác nên không quan tâm lo lắng cho gia đình. Từ năm 2021 cho đến nay, vợ chồng đã mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm gì đến ai. Nên có cơ sở để xác định tình trạng hôn nhân giữa chị K và anh S đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc chị K yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh S là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu này của chị Kha.
Về con chung: Chị K, anh S có 03 (ba) con chung là Nguyễn Dong G - sinh ngày 26/9/2002, Nguyễn Nghị D - sinh ngày 10/10/2004, Nguyễn Trọng D - sinh ngày 05/7/2009. Con chung Nguyễn Dong G hiện đã trưởng thành. Chị K yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 (hai) con chung chưa thành niên là Nguyễn Nghị D - sinh ngày 10/10/2004 và Nguyễn Trọng D - sinh ngày 05/7/2009 cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy: Các con chung hiện đang do chị K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Các cháu đều có yêu cầu được sống chung với mẹ vì vậy việc giao cho chị K được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu này của chị K. Chị K không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung: Chị Trần Thị Minh K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Chị Trần Thị Minh K xác nhận vợ chồng không nợ chung của ai, không ai nợ chung của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị đơn anh Nguyễn Văn S mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều không đến Tòa án để trình bày ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn và cũng không hòa giải được vụ án. Vì vậy, không có cơ sở để giải quyết yêu cầu của anh S.
Về án phí: Chị Trần Thị Minh K phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật với số tiền là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Chị Trần Thị Minh K được ly hôn với anh Nguyễn Văn S.
2. Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Minh K được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 (hai) con chung chưa thành niên là Nguyễn Nghị D - sinh ngày 10/10/2004 và Nguyễn Trọng D - sinh ngày 05/7/2009 cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi và chị K không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết chị K, anh S có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung: Chị Trần Thị Minh K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Trần Thị Minh K phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0003009 ngày 16 tháng 4 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện VN; chị K đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo của nguyên đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; quyền kháng cáo của bị đơn là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.
* Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hoà; - VKSND huyện VN ; - Chi cục THA huyện VN; (Sau khi án có hiệu lực pháp luật) - Ủy ban nhân dân xã VB; - Các đương sự; - Lưu vụ án; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Thị Hòa Thanh |