vanban.org

Bản án 33/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị H.

Về hôn nhân: Chị Phan Thị H được ly hôn với anh Hoàng Đình H. Về con chung: Giao con chung Hoàng Đình Minh Q, sinh ngày 16/9/2016 cho chị Phan Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Hoàng Đình H do chị Hiền k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N Đ
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2022/HNGĐ-ST
Ngày 28 - 9 - 2022
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N Đ, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vương Hoàng Hào.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Quang Xuyên.

2. Ông Nguyễn Thanh Bình.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện N Đ, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N Đ, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Đào Văn Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 173/2022/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2022/QĐST-HNGĐ ngày 24/8/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số: 13/2022/QĐST-HNGĐ ngày 08/9/2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Thị H. Sinh năm 1991.

Nơi cư trú: Xóm Thường Xuân, xã NC, huyện N Đ, tỉnh Nghệ An. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Hoàng Đình H. Sinh năm 1991.

Nơi cư trú: Xóm Thường Xuân, xã NC, huyện N Đ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện về việc ly hôn, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phan Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị kết hôn với anh Hoàng Đình H vào ngày 01/12/2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã NC, huyện N Đ, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được 3 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chồng chơi đánh bạc, lô đề, cá độ bóng đá, gây ra nợ nần nên chị và gia đình phải trả. Mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trầm trọng nên chị và con đi làm công nhân tại tỉnh Bắc Binh, vợ chồng ly thân nhau được 6 năm nay. Chị không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Hoàng Đình H.

Về con chung: Chị và anh Hoan có 01 con chung là Hoàng Đình Minh Q, sinh ngày 16/9/2016. Ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh Hoan cấp dưỡng.

Về tài sản chung và khoản nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án nhân dân huyện N Đ đã tiến hành thụ lý vụ án, đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn anh Hoàng Đình H cố tình vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án nên không có ý kiến về nội dung vụ án.

Kết quả xác minh về tình trạng hôn nhân của chị Phan Thị H và anh Hoàng Đình H tại nơi cư trú thì được biết: Anh Hoan và chị Hiền kết hôn vào năm 2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng có đi xuất khẩu lao động một thời gian thì về nước, chung sống tại xã NC một thời gian thì chị Hiền cùng con đi làm công nhân tại tỉnh Bắc Ninh. Hai vợ chồng có mâu thuẫn lý do là do tính cách không hợp nhau. Vợ chồng có 01 con chung đang sống cùng chị Hiền.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N Đ, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm quyền Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, tống đạt văn bản tố tụng đúng quy định. Trong quá trình điều tra thu thập chứng cứ Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đưa vụ án ra xét xử là đúng trình tự, thủ tục tố tụng.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, xử:

Về hôn nhân: Chị Phan Thị H được ly hôn với anh Hoàng Đình H.

Về nuôi con chung: Giao con chung là Hoàng Đình Minh Q, sinh ngày 16/9/2016 cho chị Phan Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Hoàng Đình H do chị Hiền không yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết, bị đơn không có ý kiến nên không xem xét.

Về án phí: Chị Phan Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

1.1. Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Phan Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn, quyền nuôi con với anh Hoàng Đình H có địa chỉ thường trú tại xã NC, huyện N Đ, tỉnh Nghệ An. Đây là tranh chấp hôn nhân gia đình về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

1.2. Việc vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Hoàng Đình H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Hoan cố tình vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng giải quyết vụ án, vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa sơ thẩm không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Nguyên đơn chị Hiền có đơn xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Hoan là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị Phan Thị H và anh Hoàng Đình H tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 01/12/2015 tại UBND xã NC, huyện N Đ, tỉnh Nghệ An. Đây là hôn nhân hợp pháp, đúng quy định, được pháp luật bảo vệ, phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau được khoảng thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do tính tình, suy nghĩ, quan điểm của hai vợ chồng không hợp nhau, chồng không có trách nhiệm chăm lo cho gia đình, vợ con. Chị Hiền cho rằng chồng tham gia đánh bạc, nợ nần, vợ chồng không còn tin tưởng nhau, chị không còn tình cảm với anh Hoan. Về phía anh Hoan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia giải quyết vụ án điều đó thể hiện anh từ bỏ các quyền và nghĩa vụ của mình, không có ý thức hòa giải đoàn tụ vợ chồng. Xét thấy vợ chồng đã không còn chung sống, quan tâm, chăm sóc với nhau là không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình làm cho hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Thị H đối với anh Hoàng Đình H.

Về con chung: Chị Phan Thị H và anh Hoàng Đình H có 01 con chung là Hoàng Đình Minh Q, sinh ngày 16/9/2016. Ly hôn, chị Hiền có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành. Anh Hoan không có ý kiến trình bày. Xét thấy: Nguyện vọng của chị Hiền là hoàn toàn chính đáng. Cháu Quân lâu nay ở với chị Hiền, cuộc sống của cháu đang ổn định, chị Hiền có công việc, thu nhâp ổn định, đảm bảo cho việc nuôi con. Vì quyền lợi mọi mặt của con cần tiếp tục giao cháu Quân cho chị Hiền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp, đúng quy định.

Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Chị Phan Thị H không yêu cầu cấp dưỡng nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Hoàng Đình H. Trường hợp chị Hiền có yêu cầu cấp dưỡng thì xem xét giải quyết bằng vụ án khác.

Trường hợp chị Hiền nuôi con không đảm bảo quyền, lợi ích của con mà có căn cứ chứng minh thì anh Hoan có quyền làm đơn thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Trường hợp anh Hoan lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Hiền có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con.

Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Chị Hiền không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn anh Hoan không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp anh Hoan và chị Hiền có yêu cầu thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.

Về án phí: Nguyên đơn chị Phan Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 19, 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 147, 227, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị H.

1. Về hôn nhân: Chị Phan Thị H được ly hôn với anh Hoàng Đình H.

2. Về con chung: Giao con chung Hoàng Đình Minh Q, sinh ngày 16/9/2016 cho chị Phan Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Hoàng Đình H do chị Hiền không yêu cầu. Trường hợp chị Hiền có yêu cầu cấp dưỡng thì xem xét, giải quyết bằng vụ án khác.

Anh Hoàng Đình H có quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

Trường hợp chị Hiền là người trực tiếp nuôi con chung không đảm bảo quyền, lợi ích của con mà anh Hoan có căn cứ chứng minh thì có quyền yêu cầu Tòa án xem xét, thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Trường hợp anh Hoan lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Hiền có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con.

3. Về án phí: Chị Phan Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004714 ngày 27 tháng 7 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N Đ, tỉnh Nghệ An. (Chị Hiền đã nộp đủ tiền án phí).

5. Về quyền kháng cáo: Chị Phan Thị H và anh Hoàng Đình H đều vắng mặt có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ