- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thảo -Tùng"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| HUYỆN MỸ XUYÊN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:33/2022/HNGĐ-ST Ngày: 17/06/2022. V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Dương Hải.
- Các Hội thẩm nhân dân : 1. Ông Huỳnh Văn Hiệp
2. Bà Nguyễn Hồng Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Tiểu Loan – Thẩm tra viên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Tài – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 06 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 56/2022/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 04 năm 2022 về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2022/QĐ-ST, ngày 15/5/2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Phƣơng T, sinh năm 1980
- Bị đơn: Ông Võ Văn T, sinh năm 1974
Con chung trên 07 tuổi: Cháu Võ Nguyên C, sinh năm 2007.
Cùng địa chỉ: Số 43, ấp H, xã H, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 21/3/2022 nguyên đơn bà Nguyễn Phương T trình bày: Vào năm 1998 bà T và ông T kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng sống với nhau cũng hạnh phúc cho đến khoảng năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, lý do là tính tình không hợp, bất đồng quan điểm và vợ chồng sống không hạnh phúc. Vì vậy vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay không hàn gắn, đoàn tụ lại được. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau nữa nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Võ Văn T. Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có 02 con chung tên gồm: Võ Thuận P, sinh ngày 11/12/1999 và cháu Võ Nguyên C, sinh ngày 25/3/2007 hiện các con chung đang sống chung với ông T. Nay về con chung bà T thống nhất để cháu C tiếp tục sống với ông T và nếu ông T yêu cầu cấp dưỡng nuôi con thì bà cũng đồng ý cấp dưỡng theo quy định còn cháu P đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản và không nợ ai tài sản gì nên bà T không yêu cầu toà án giải quyết.
- Đối với bị đơn ông Võ Văn T thì sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn nhưng bị đơn không gửi văn bản ghi kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho Tòa án.
* Taïi phieân toøa, Kieåm saùt vieân phaùt bieåu yù kieán về đường lối giải quyết vụ án là đề nghị HĐXX cho bà T được ly hôn với ông T. Về con chung giao cho ông T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Võ Nguyên C, sinh năm 2007 cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi, bà T không phải cấp dưỡng nuôi con. Bà T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản. Về tài sản chung, nợ chung, không có nên không đặt vấn đề xem xét. Đối với vieäc tuaân theo phaùp luaät toá tuïng trong quaù trình giaûi quyeát vuï aùn cuûa Thaåm phaùn, Hoäi ñoàng xeùt xöû vaø vieäc chaáp haønh phaùp luaät cuûa ngöôøi tham gia toá tuïng, keå töø khi thuï lyù vuï aùn cho ñeán tröôùc thôøi ñieåm Hoäi ñoàng xeùt xöû nghò aùn ñaõ tuaân theo ñuùng caùc quy ñònh cuûa Boä luaät toá tuïng daân söï năm 2015.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn và bị đơn đều đã có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt. Vì vậy áp dụng khoản 1 Điều 228, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt bà T và ông T theo quy định pháp luật.
Về nội dung:
Về hôn nhân:
Bà Nguyễn Phương T và ông Võ Văn T tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 1998 và được Ủy ban nhân dân xã Hòa Tú 2, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định. Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống với nhau rất hạnh phúc, sau đó đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, và cuối cùng vợ chồng đã sống ly thân cho đến nay không hàn gắn lại được.
Xét thấy, do trong quá trình chung sống giữa ông T và bà T không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống, do đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, sống không hạnh phúc, ông bà đã sống ly thân thời gian dài mà không có điều kiện hàn gắn trở lại. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa hai người là trầm trọng, cuộc sống chung không có cơ sở để tồn tại, dẫn đến mục đích hôn nhân xây dựng gia đình hạnh phúc không thể đạt được. Do vậy việc bà T yêu cầu được ly hôn với ông T là có căn cứ để chấp nhận theo quy định của pháp luật.
- Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông T và bà T đã có với nhau 02 con chung là cháu Võ Thuận P, sinh ngày 11/12/1999 và cháu Võ Nguyên C, sinh ngày 25/3/2007 hiện các con chung đang sống chung với ông T. Nay về con chung bà T có ý kiến là con theo ai thì người đó nuôi dưỡng, nếu cháu C muốn sống với cha thì bà T sẽ đồng ý cấp dưỡng theo luật định. Xét thấy, theo nguyện vọng của cháu C là xin được sống với cha vì vậy cần tiếp tục để cháu C được tiếp tục sống với ông T và giao cháu C cho ông T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi là phù hợp, bà T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông T không yêu cầu nên HĐXX không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
+ Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bà T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.
Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên đã nêu là có căn cứ và phù hợp với những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, đánh giá tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát đã nêu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; Khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280, của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, khoản 1, khoản 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Phương T.
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Phương T được ly hôn với ông Võ Văn T.
- Về con chung: Ông T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung là cháu Võ Nguyên C, sinh ngày 25/3/2007 đến đủ 18 tuổi. Dành quyền thăm nom chăm sóc con cho bà T không ai được quyền cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có
- Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp 300.000đ, theo biên lai thu tiền số 0009931, ngày 22/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, như vậy bà T đã nộp xong án phí sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Mỹ Xuyên; - Chi cục THADS huyện MX; - Phòng GĐKT; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Mai Thị Dƣơng Hải |