- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lư Thị Bích T
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUYÊN HẢI TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2022/HNGĐ-ST Ngày: 05-9-2022 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Trầm Thị Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Đạt Thông
Ông Nguyễn Trần Đông
- Thư ký phiên tòa: Bà Liêng Thị Kim Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên Hải tham gia phiên Tòa: Ông Kim Mau - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2022 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 154/2022/TLST-HNGĐ, ngày 04 tháng 5 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lư Thị Bích T, sinh năm 1984 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện D, tỉnh Trà Vinh.
- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn P, sinh năm 1978 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện D, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và Biên bản lấy lời khai chị Lư Thị Bích T trình bày: Vào năm 2001 chị và anh Huỳnh Văn P quen biết với nhau tự nguyện tiến tới hôn nhân có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn vào ngày 21-12-2017 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện D, tỉnh Trà Vinh.
Thời gian đầu chung sống hạnh phúc khoảng năm 2021 thì vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp hay cự cãi với nhau nguyên nhân vì anh P thường hay nhậu nhẹt, ghen tuông vô cớ và đánh đập chị. Xét thấy đời sống chung không còn hạnh phúc, hiện tình cảm vợ chồng đã không thể hàn gắn chúng tôi đã ly thân từ tết nguyên đán 2022 đến nay và chị đã không còn tình cảm với anh P nên chị làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn với anh Huỳnh Văn P.
Về con chung: có một người con chung tên Huỳnh Thị Yến N, sinh ngày 26-10-2002 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tài sản chung: không có nên không yêu cầu.
Nợ chung: không có nên không yêu cầu.
Tại phiên tòa hôm nay chị T, anh P đều có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Huỳnh Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần và anh có làm đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh. Anh P trực tiếp nhận thông báo thụ lý vụ án và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án nhưng anh mặc nhiên không quan tâm. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 10-8-2022 anh P cũng thống nhất việc chị T xin ly hôn, thống nhất con chung tên Huỳnh Thị Yến N, sinh ngày 26-10-2002 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản chung, nợ chung của vợ chồng anh cũng xác nhận không có.
Vị Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, nhận thấy việc thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền và quan hệ pháp luật, xác định đầy đủ và đúng tư cách của những người tham gia tố tụng; thu thập chứng cứ theo trình tự, thủ tục, quyết định đưa vụ án ra xét xử và gửi hồ sơ cho Viện Kiểm Sát nghiên cứu đúng thời hạn; cấp tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định tại các Điều 93, 94, 95, 96, 97, 109 và Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay, hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ về nguyên tắc cơ bản khi giải quyết vụ án, thành phần Hội đồng xét xử và thư ký tòa án không thuộc trường hợp phải từ chối hoặc bị thay đổi theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chưa thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Theo các chứng cứ chị Lư Thị Bích T cho rằng quan hệ hôn nhân không hạnh phúc do anh P thường xuyên nhậu nhẹt về đánh đập chị và nay chị đã không còn tình cảm với anh P và anh P cũng thống nhất yêu cầu ly hôn của chị do mục đích hôn nhân không đạt được nên chị nộp đơn xin ly hôn với anh P là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: có một người con chung tên Huỳnh Thị Yến N, sinh ngày 26-10-2002 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tài sản chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Lư Thị Bích T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến, yêu cầu của đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thẩm quyền giải quyết: Xét thấy bị đơn anh Huỳnh Văn P có đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại xã B, huyện D, tỉnh Trà Vinh, đối chiếu quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Xét thấy đơn khởi kiện của chị Lư Thị Bích T có nội dung yêu cầu ly hôn nên có quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về tố tụng: Do chị T và anh P đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
. Về hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Lư Thị Bích T, thấy rằng chị T và anh P hai bên tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã B, chung sống hạnh phúc một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn do anh P thường xuyên nhậu nhẹt về ghen tuông vô cớ và đánh đập chị. Hiện tại chị cho rằng đã không còn tình cảm với anh, cả hai anh chị đều thống nhất việc ly hôn, từ nhận định trên thấy rằng tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh P đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.
. Về con chung: có một người con chung tên Huỳnh Thị Yến N, sinh ngày 26-10-2002 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
. Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
. Về nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
. Về án phí: Chị Lư Thị Bích T phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 19, 51, 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lư Thị Bích T
Về quan hệ hôn nhân: cho chị Lư Thị Bích T được ly hôn anh Huỳnh Văn P.
Về con chung: có một người con chung tên Huỳnh Thị Yến N, sinh ngày 26-10-2002 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Buộc chị Lư Thị Bích T phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0009401 ngày 11 tháng 3 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. Anh Huỳnh Văn P không phải chịu án phí.
Án sơ thẩm các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án và được tống đạt hợp lệ bản án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Duyên Hải; -CCTHADS huyện Duyên Hải; - UBND xã Đôn Xuân, -Các đương sự; -Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trầm Thị Thanh Thảo |