- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Mỹ D phạm tội "Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC HÀ TỈNH HÀ TĨNH Bản án số: 33/2021/HSST |
Ngày: 09/12/2021
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC HÀ - HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Tuấn; Ông Phan Tùng Long.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Thủy.
- Đại diện VKSND huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Xuân Định - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2021 tại hội trƣờng xét xử, Tòa án nhân dân huyện Lộc Hà đƣa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2021/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 31/2021/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2021/HSST-QĐ ngày 03/12/2021, đối với bị cáo:
TRẦN THỊ MỸ D - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 11/5/2003 tại xã X, huyện N, tỉnh H; Nơi cƣ trú: Thôn T, xã X, huyện N, tỉnh H; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Con ông: Trần Quốc T1 - Sinh năm 1978 và bà: Phạm Thị H1 - Sinh năm 1981; Chồng: Nguyễn Hữu Ƣ - Sinh năm 2001 và một con sinh ngày 28/9/2021; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 27/9/2021, bị TAND huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khởi nơi cƣ trú theo Lệnh số 56A/HSST ngày 27/9/2021 của Toà án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người bị hại: Chị Đặng Thị L - Sinh ngày: 10/10/1998; Nơi cƣ trú: Thôn T2, xã P, huyện L1, tỉnh H (Vắng mặt).
Người có quyền lợi liên quan: Anh Trần Quốc T1 - Sinh ngày: 31/7/1978; Nơi cƣ trú: Thôn T, xã X, huyện N, tỉnh H (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 15 giờ ngày 02/9/2021, Trần Thị Mỹ D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX, biển kiểm soát 38N1 - 180.00 (của ông Trần Quốc T1 là bố đẻ của D) từ nhà ở thôn T, xã X, huyện N, tỉnh H đến cửa hàng tạp hóa của chị Đặng Thị L tại thôn 4, xã B, huyện L1, tỉnh H để mua một số đồ dùng cá nhân. Sau khi chọn đƣợc đồ cần mua, D đi lại quầy thanh toán. Trong lúc chị L đang tập lồng ruột gối vào vỏ gối thì D phát hiện tại quầy hàng của chị L có một túi xách màu đen nên nảy sinh ý định lấy trộm tài sản có trong túi xách đó. Lợi dụng lúc chị L không để ý, D đã lén lút kéo khóa mở túi xách để tìm kiếm tài sản. Khi mở túi xách ra D thấy một số tờ tiền với nhiều mệnh giá khác nhau. Thấy vậy, D lấy một tờ tiền có mệnh giá 50.000 đồng bỏ vào trong túi áo phía trên của mình rồi tiếp tục lục soát phía trong túi xách thấy một chiếc ví màu hồng nên lấy trộm chiếc ví này bỏ vào trong túi áo khoác nắng mà D đang mặc. Sau khi lấy trộm tài sản, D nói với chị L “Chị cho em để đồ ở đây, em ra đón em lát em quay lại lấy”, nghe vậy thì chị L đồng ý. Sau khi rời cửa hàng, D điều khiển xe mô tô đến một cây xăng gần đó và dùng 50.000 đồng vừa lấy đƣợc để trả tiền đổ xăng. Tại đây, D đã mở chiếc ví màu hồng vừa lấy trộm ở cửa hàng của chị L ra kiểm tra thì thấy bên trong ví có số tiền 2.000.000 đồng (gồm 04 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng), 01 thẻ căn cƣớc công dân và 01 thẻ ATM ngân hàng Vietcombank đều mang tên Đặng Thị L, sau đó D cất tài sản vừa trộm đƣợc và tiếp tục điều khiển xe đi về. Khi về đến nhà, D cất toàn bộ tài sản vừa trộm đƣợc vào trong tủ đựng quần áo đặt ở phòng ngủ của D. Đến ngày 06/9/2021, khi làm việc với Công an xã B, huyện L1, D đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình và chỉ ra nơi cất giấu tản sản.
Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Hà đã thu giữ: 01 ví bằng vải màu hồng, kích thƣớc (10 x 8 x 2)cm, bên trong ví có số tiền 2.000.000 đồng gồm 04 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 01 thẻ căn cƣớc công dân và 01 thẻ ATM ngân hàng Vietcombank đều mang tên Đặng Thị L. 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX biển kiểm soát 38N1 - 180.00 và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Trần Quốc T1.
Xét thấy không ảnh hƣởng đến quá trình giải quyết vụ án nên quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Hà đã trả lại các vật chứng nói trên cho chủ sở hữu.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, ngƣời bị hại chị Đặng Thị L không có yêu cầu gì thêm về dân sự. Đối với số tiền 50.000 đồng sau khi lấy trộm đƣợc D đã dùng để đổ xăng không thu hồi đƣợc, thì chị L cũng không yêu cầu D phải bồi thƣờng.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Thị Mỹ D khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai ngƣời bị hại, lời khai của ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Hà thu thập trong quá trình điều tra vụ án.
Bản cáo trạng số 28/CT-VKSLH ngày 26/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Trần Thị Mỹ D về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Hành vi của bị cáo Trần Thị Mỹ D có đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Thị Mỹ D về tội Trộm cắp tài sản và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 173; điểm n, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS, xử phạt bị Trần Thị Mỹ D từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù. Tổng hợp hình phạt của hai bản án, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
Lời nói sau cùng của bị cáo Trần Thị Mỹ D: Bị cáo đã nhận thức đƣợc hành vi của mình là vi phạm pháp luật; bị cáo rất ăn năn, hối cải và xin HĐXX xử giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo xin hứa từ nay về sau sẽ không vi phạm pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lộc Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo Trần Thị Mỹ D trƣớc phiên tòa hôm nay là hoàn toàn phù hợp với lời khai của ngƣời bị hại, lời khai của ngƣời có quyền lợi liên quan và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh thu thập trong quá trình khởi tố, điều tra vụ án. Do đó HĐXX đã có đủ chứng cứ để kết luận:
Vào khoảng 15 giờ ngày 02/9/2021, tại cửa hàng tạp hóa của chị Đặng Thị L ở thôn 4, xã B, huyện L1, tỉnh H, Trần Thị Mỹ D đã có hành vi lén lút lấy trộm của chị L 01 chiếc ví bằng vải màu hồng bên trong có 01 thẻ căn cƣớc công dân và 01 thẻ ATM ngân hàng Vietcombank mang tên Đặng Thị L cùng với số tiền 2.050.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Trần Thị Mỹ D đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản", tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại điều 173 Bộ luật hình sự.
Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Trần Thị Mỹ D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng ngƣời, đúng tội, đúng chính sách Pháp luật.
Khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự quy định: Ngƣời nào trộm cắp tài sản của ngƣời khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dƣới 50.000.000 đồng…, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Xét tính chất vụ án, HĐXX xét thấy đây là vụ án Trộm cắp tài sản gây hậu quả ít nghiêm trọng. Vụ án xảy ra trong bối cảnh tình hình an ninh trật tự trên địa bàn có chiều hƣớng gia tăng, gây dƣ luận không tốt trong quần chúng nhân dân, ảnh hƣởng đến an ninh trật tự tại địa phƣơng.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì bị cáo Trần Thị Mỹ D thực hiện hành vi phạm tội không thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào đƣợc quy định tại điều 52 BLHS.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì bị cáo Trần Thị Mỹ D đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS: "Thành khẩn khai báo” và “Ngƣời phạm tội là phụ nữ có thai"; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm n, điểm s khoản 1 điều 51 BLHS. Ngoài ra, tại thời điểm xét xử bị cáo đang nuôi con nhỏ dƣới 12 tháng tuổi, đây là tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS cần áp dụng cho bị cáo.
Xét về nhân thân thì bị cáo Trần Thị Mỹ D có nhân thân xấu, 27/9/2021, bị TAND huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (Chƣa đƣợc xóa án tích).
Sau khi xem xét đánh giá hành vi, hậu quả, động cơ, mục đích phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo và tính chất rất nghiêm trọng của vụ án, HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS để xử phạt bị cáo một mức hình phạt đủ nghiêm, tƣơng xứng với hành vi phạm tội, đồng thời cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo rèn luyện bản thân có ý thức tôn trọng pháp luật và có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự: Ngƣời bị hại là chị Đặng Thị L đã nhận lại tài sản, hiện nay không có yêu cầu bồi thƣờng về dân sự, do đó HĐXX miễn xét.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Hà đã xử lý đúng thẩm quyền, do đó HĐXX miễn xét.
Về biện pháp tƣ pháp: Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Trần Thị Mỹ D hƣởng thụ số tiền thu lợi bất chính 50.000 đồng. Do đó HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 điều 47 BLHS, tịch thu sung quỹ nhà nƣớc.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Mỹ D phạm tội "Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 điều 173; điểm n, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo Trần Thị Mỹ D: 06 (Sáu) tháng tù.
Áp dụng: Khoản 1 điều 55; khoản 1 điều 56 BLHS, tổng hợp hình phạt với 09 (Chín) tháng tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 55/2021/H-ST ngày 27 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 15 (Mƣời lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS, tịch thu sung quỹ nhà nƣớc: Số tiền thu lợi bất chính tại bị cáo Trần Thị Mỹ D: 50.000 đồng (Năm mƣơi nghìn đồng).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 135; khoản 2 điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 điều 23; khoản 2 điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH và danh mục mức án phí, lệ phí toà án ban hành kèm theo, xử buộc: Bị cáo Trần Thị Mỹ D phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
Bị cáo có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh để xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời bị hại và ngƣời có quyền lợi liên quan vắng mặt đƣợc quyền kháng trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản sao bản án hoặc ngày niêm yết công khai./. NƠI NHẬN:
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND Cấp cao;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA:
- Phòng Nghiệp vụ TAND tỉnh;
- Công an huyện Lộc Hà (2 bản);
- VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
- VKSND huyện Lộc Hà ;
- Sở Tƣ pháp tỉnh Hà Tĩnh;
- UBND xã X, huyện N;
- Chi cục THA dân sự huyện Lộc Hà;
Phan Văn Lâm
- THA hình sự;
- Bị cáo; Ngƣời bị hại; Ngƣời có quyền lợi liên quan;
- Lƣu hồ sơ, lƣu văn phòng.