vanban.org

Bản án 33/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 25/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi thường cho anh Đỗ Văn T1 số tiền 17.323.000đ (Mười bảy triệu ba trăm hai mươi ba nghìn); bồi thường cho anh Bùi Đình D số tiền 7.000.000đ (Bảy triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẢO LỘC
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2021/HS-ST
Ngày: 25-3-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Khắc Phong.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Võ Thị Minh Anh.

2. Bà Phạm Thị Tư.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đinh Duy Toàn - Là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Ông Đặng Xuân Hùng, Kiểm sát viên.

Ngày 25/3/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 44/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2021/QĐXXST-HS ngày 12/3/2021, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm: 1969 tại Nam Định; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và cư trú: Số I 14, phòng 8, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1932 (đã chết) và bà Bùi Thị D, sinh năm 1937 hiện cư trú tại số I 14, phòng 8, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định; anh chị em ruột có 04 người, lớn nhất sinh năm 1958, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; vợ: Phạm Bích N, sinh năm 1978; con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2009, hiện đang sinh sống tại huyện H, thành phố Hồ Chí Minh; tiền sự: Không;

Tiền án:

- Ngày 22/05/2001, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 9 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 89/HSST. Chấp hành xong ngày 12/10/2001, hiện chưa nộp án phí;

- Ngày10/10/2002, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 293/HSST (tái phạm);

- Ngày 02/02/2005, bị Tòa án thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 5 năm tù giam về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự” theo bản án số 213/HSST và tổng hợp bản án số 293/HSST là 6 năm 6 tháng. Chấp hành xong ngày 21/05/2008, chưa nộp án phí;

- Ngày 25/03/2013, bị Tòa án huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt 6 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 33/HSST (tái phạm nguy hiểm). Chấp hành xong ngày 02/02/2018, chưa xóa án tích;

Nhân Thân: Ngày 02/04/1987, bị Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam Ninh ra Quyết định tập trung cải tạo 03 năm theo Quyết định số 370.

Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Bảo Lộc từ ngày 05/12/2020 cho đến nay. Có mặt.

Bị hại:

1. Ông Đỗ Văn T1, sinh năm: 1964; nơi cư trú: Số 93/22 đường H, phường P, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

2. Anh Trần Lê Minh T2, sinh năm: 1978; nơi cư trú: Hẻm 25 đường L, phường 1, thành phố B, Lâm Đồng. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Bùi Đình D, sinh năm: 1992; nơi cư trú: Số 165A đường N, phường P, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T đã có nhiều tiền án chưa được xóa án tích, đã thực hiện các vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Bảo Lộc, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 9h45 sáng ngày 20/8/2020, T điều khiển xe mô tô biển số: 59F1 - 73767, nhãn hiệu: Honda Future, màu sơn đỏ đen chở theo Trần Văn Ngự đi cùng với một đối tượng tên Cường (chưa rõ lai lịch) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu: SH mode, màu sơn xám, không rõ biển số, đi đến đường hẻm số 93 Hà Giang, thuộc phường 1, thành phố Bảo Lộc. Khi đi ngang qua nhà của anh Đỗ Văn T1, phát hiện cửa bên ngoài nên T dừng xe lại lấy thanh sắt (dụng cụ phá khóa cửa) đã chuẩn bị sẵn từ trước cùng với Ngự đi vào nhà anh T1, T dùng thanh sắt phá khóa cửa nhà anh T1 rồi đi vào nhà lục lấy tài sản còn Ngự đứng bên ngoài cảnh giới. Khi vào trong nhà anh T1 tiếp tục dùng thanh sắt cạy bung khóa cửa tủ trong phòng ngủ lấy được: 03(ba) nhẫn vàng loại vàng 18K, trọng lượng 03 chỉ; 01(một) sợi dây chuyền vàng loại vàng 18K, trọng lượng 1,5 chỉ và số tiền 2.000.000đ bao gồm nhiều loại tiền mệnh giá khác nhau rồi đi ra ngoài. T, Ngự và Cường điều khiển xe đi về thành phố Hồ Chí Minh, T giao toàn bộ số vàng này cho Cường đi bán được hơn 4.000.000đ, mỗi người chia nhau được hơn 2.000.000đ tiêu xài cá nhân hết. Quá trình điều tra, không thu hồi được các tài sản trên.

Vụ thứ hai: Vào sáng ngày 25/8/2020, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu sơn đỏ đen, biển số 59F1 - 73767 đi một mình còn đối tượng tên Cường điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode chở Trần Văn Ngự đi vào đường hẻm số 25 Lê Ngọc Hân, phường 1, thành phố Bảo Lộc, phát hiện thấy nhà của anh Trần Lê Minh T2 khóa cửa bên ngoài nên dừng xe lại. T lấy thanh sắt (dụng cụ phá khóa cửa) đã chuẩn bị sẵn từ trước đi vào nhà anh T2 phá khóa cửa, còn Ngự và Cường đứng ngoài cảnh giới. Khi vào vào trong nhà anh T2 lấy được: 01(một) máy tính Laptop nhãn hiệu HP, màu đen trắng xám; 01(một) máy tính Laptop nhãn hiệu Asus, màu hồng vàng đồng (02 chiếc Laptop là của anh Bùi Đình D mang đến anh T2 để sửa máy). Sau khi lấy được tài sản T mang ra ngoài rồi cùng Ngự, Cường đi về thành phố Hồ Chí Minh, Cường đem 02 cái máy tính Laptop đi bán được gần 2.000.000đ chia nhau mỗi người được hơn 600.000đ, tiêu xài cá nhân hết. Quá trình điều tra, không thu hồi được các tài sản trên.

Tại kết luận định giá số: 165 ngày 01/12/2020 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01(một) máy tính Laptop nhãn hiệu HP, màu đen trắng xám; 01(một) máy tính Laptop nhãn hiệu Asus, màu hồng vàng đồng có tổng trị giá là: 7.000.000đ (bảy triệu đồng).

Tại kết luận định giá số: 171 ngày 16/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 03 (ba) chiếc nhẫn vàng, loại 18k, mỗi chiếc nhẫn có trọng lượng 01 chỉ; 01 (một) sợi dây chuyền vàng, loại 18k, có trọng lượng 1,5 chỉ có giá trị tổng cộng là: 15.323.000đ (mười lăm triệu ba trăm hai mươi ba ngàn đồng).

Về dân sự: Cơ quan điều tra không thu hồi được các tài sản trên nên anh Đỗ Văn T1 và anh Bùi Đình D yêu cầu bị cáo Tâm bồi thường cho anh Trường số tiền là 17.323.000đ và anh Doanh số tiền là 7.000.000đ.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra Công an thành phố Bảo Lộc đang tạm giữ các tài sản của bị cáo Tâm gồm:

- 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô số: 005046, mang Lê Văn Hoàng và 01 (một) biển số 43C1 - 21679 do bị cáo T mua trên mạng.

- 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô số: 016851, mang tên Lê Viết Út và 01 (một) xe mô tô Honda Future, màu sơn đỏ đen, biển số: 59F1 - 73767, số máy: 3035975, số khung: 023383. Qua xác minh người đứng tên là Lê Viết Út hiện không có mặt tại địa phương, cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh chủ sở hữu để xử lý theo quy định.

- 01 (một) căn cước công dân và 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Văn T;

- 01 (một) đông hồ đeo tay bằng kim loại, màu vàng, có dòng chữ STARHAO;

- 01 (một) điện thoại di động Oppo, màu đỏ đen, số Imei: 869002031649755;

- 01(một) điện thoại di động có dòng chữ BMW, màu: vàng, số Imei: 355670184184134;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 31,5 cm, hình trụ tròn, đường kính 2cm; một đầu đập dẹp phần đuôi có 2,4cm; một đầu hình chữ nhật 1,6x1 cm, có quấn băng keo màu đen ở giữa và một sợi dây kẽm;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 38,5cm, hình chữ nhật, đường kính 2x1,5 cm; một đầu đập dẹp phần đuôi có 2,3cm; một đầu hình chữ nhật 1,4x1cm, có quấn băng keo màu đen ở giữa và một sợi dây kẽm;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 45,2cm, hình chữ nhật, đường kính 2x1cm; một đầu đập dẹp có 2,6cm; một đầu hình chữ nhật 1,6x1cm, có quấn băng keo màu đen ở giữa và một sợi dây kẽm;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 29 cm, hình chữ nhật, đường kính 2,2x1cm; một đầu đập dẹp có 2,2cm; một đầu hình chữ nhật 1,6x0,8cm;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 22cm, hình trụ tròn, đường kính 1,4cm; một đầu đập dẹp 1,4cm;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 25cm, ở giữa hình trụ tròn, đường kính 2cm; một đầu đập dẹp 2cm; một đầu hình chữ nhật 1,1x0,8cm;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 29cm, bên trong rỗng, hình trụ tròn, đường kính 2,5cm; một đầu đập dẹp 3,3x0,7cm; một đầu đập dẹp 2,8x2cm;

- 01 (một) cục sắt hình chữ nhật có kích thước 3,1x7,5x1,5cm;

- 01 (một) cục sắt hình chữ nhật có kích thước 8x2,2x1,6cm;

- 01 (một) cà lê có chiều dài 13,5cm, một đầu 14, một đầu 10;

- 01 (một) mỏ lết có chiều dài 20cm, có dòng chữ BERRYLION;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 5,5cm, một đầu hình lục giác, một đầu dẹp;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 3,7cm, một đầu hình lục giác, một đầu dẹp;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 10,7cm, một đầu hình lục giác, một đầu dẹp;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 10,5cm, một đầu hình lục giác, một đầu dẹp;

- 01 (một) ống sắt có dòng chữ PITTSBURGH 12;

- 01 (một) van dùng để phá khóa có dòng chữ SV81472, màu đen đỏ;

- 01 (một) súng điện, có dòng chữ 928TYPE;

- 01 (một) đèn pin, màu đen, có dòng chữ XML-T6;

- 01 (một) bút châm cứu, màu trắng đen;

- 01 (một) cục phá sóng định vị 8 râu, có dòng chữ INDC12V.

Cáo trạng số: 50/CT-VKSBL ngày 08/3/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Tâm từ 05 đến 06 năm tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng:

- Giao 01 giấy đăng ký xe 59F1 - 73767, số: 016851, mang tên Lê Viết Út và 01 chiếc xe mô tô Honda Future, màu sơn đỏ đen, biển số: 59F1 - 73767, số máy: 3035975, số khung: 023383 cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bảo Lộc tiếp tục xác minh làm rõ.

- Trả lại cho bị cáo: 01 căn cước công dân; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Văn T; 01 đồng hồ đeo tay bằng kim loại, màu vàng, có dòng chữ STARHAO; 01 điện thoại di động Oppo, màu đỏ đen, số Imei 869002031649755 và 01 điện thoại di động có dòng chữ BMW, màu vàng, số Imei: 355670184184134.

- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng còn lại.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Đỗ Văn T1 số tiền 17.323.000đ, bồi thường cho anh Bùi Đình D số tiền 7.000.000đ.

Vể án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không thắc mắc, khiếu nại bản cáo trạng, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng nêu; bị cáo đồng ý bồi thường cho anh Đỗ Văn T1 số tiền 17.323.000đ, cho anh Bùi Đình D số tiền 7.000.000đ. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bảo Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về căn cứ xác định tội danh:

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 20/08/2020 Nguyễn Văn T đã trộm cắp 03 (ba) chiếc nhẫn vàng, loại 18k, mỗi chiếc nhẫn có trọng lượng 01 chỉ; 01 (một) sợi dây chuyền vàng, loại 18k, có trọng lượng 1,5 chỉ của anh Đỗ Văn T1 có giá trị tổng cộng 15.323.000đ và 2.000.000đ tiền mặt; ngày 25/08/2020, T đã trộm cắp 01(một) máy tính Laptop nhãn hiệu HP, màu đen trắng xám; 01(một) máy tính Laptop nhãn hiệu Asus, màu hồng vàng đồng của anh Trần Lê Minh T2 có tổng trị giá 7.000.000đ. Như vậy, tổng giá trị tài sản mà bị cáo T chiếm đoạt được là: 24.323.000đ (Hai mươi bốn triệu ba trăm hai mươi ba ngàn đồng).

Trong khi bị cáo đang có 04 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự” đã bị áp dụng tình tiết tái phạm và tái phạm nguy hiểm.

Vì vậy, hành vi nêu trên của Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

- Tình tiết tăng năng: Bị cáo T phạm tội 02 lần, mỗi lần giá trị tài sản đều trên 2.000.000đ. Vì vậy, áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; tại phiên tòa bị hại Đỗ Văn T1 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tính chất vụ án: Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng vẫn lén lút chiếm đoạt tài sản trị giá tổng cộng là 24.323.000đ, mục đích để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Bản thân bị cáo đã 04 lần bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản, Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự nhưng không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện tu dưỡng, rèn luyện thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung theo quy định khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

Về vật chứng:

* Đối với 01 (một) giấy đăng ký xe 59F1 - 73767, số: 016851, mang tên Lê Viết Út và 01 (một) chiếc xe mô tô xe mô tô biển số 59F1 - 73767, số máy: 3035975 số khung 023383, nhãn hiệu Honda Future, màu sơn đỏ đen, Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo T, hiện nay chưa xác minh được chủ sở hữu hợp pháp nên cần giao lại cho Cơ quan điều tra Công an thành phố Bảo Lộc tiếp tục, xác minh giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Đối với các vật chứng gồm:

- 01 (một) giấy đăng ký xe 43C1 - 21679, số: 005046, mang tên Lê Văn Hoàng và 01 (một) biển số 43C1 - 21679;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 31,5cm, hình trụ tròn, đường kính 2cm; một đầu đập dẹp phần đuôi có 2cm; một đầu hình chữ nhật 1,6 x 1cm, có quấn băng keo màu đen ở giữa và một sợi dây kẽm;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 38,5cm, hình chữ nhật, đường kính 2 x 1,5cm; một đầu đập dẹp phần đuôi có 2,3cm; một đầu hình chữ nhật 1,4 x 1cm, có quấn băng keo màu đen ở giữa và một sợi dây kẽm;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 45,2cm, hình chữ nhật, đường kính 2 x 1cm; một đầu đập dẹp có 2,6cm; một đầu hình chữ nhật 1,6 x 1cm, có quấn băng keo màu đen ở giữa và một sợi dây kẽm;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 29cm, hình chữ nhật, đường kính 2,2 x 1cm; một đầu đập dẹp có 2,2cm; một đầu hình chữ nhật 1,6 x 0,8cm;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 22cm, hình trụ tròn, đường kính 1,4cm; một đầu đập dẹp 1,4cm;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 25cm, ở giữa hình trụ tròn, đường kính 2cm; một đầu đập dẹp 2cm; một đầu hình chữ nhật 1,1 x 0,8cm;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 29cm, bên trong rỗng, hình trụ tròn, đường kính 2,5cm; một đầu đập dẹp 3,3 x 0,7cm; một đầu đập dẹp 2,8 x 2cm;

- 01 (một) cục sắt hình chữ nhật có kích thước 3,1 x 7,5 x 1,5cm;

- 01 (một) cục sắt hình chữ nhật có kích thước 8 x 2,2 x 1,6cm;

- 01 (một) cà lê có chiều dài 13,5cm, một đầu 14, một đầu 10;

- 01 (một) mỏ lết có chiều dài 20cm, có dòng chữ BERRYLION;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 5,5cm, một đầu hình lục giác, một đầu dẹp;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 3,7cm, một đầu hình lục giác, một đầu dẹp;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 10,7cm, một đầu hình lục giác, một đầu dẹp;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 10,5cm, một đầu hình lục giác, một đầu dẹp;

- 01 (một) ống sắt có dòng chữ PITTSBURGH 12;

- 01 (một) van dùng để phá khóa có dòng chữ SV81472, màu đen đỏ;

- 01 (một) súng điện, có dòng chữ 928TYPE;

- 01 (một) đèn pin, màu đen, có dòng chữ XML-T6;

- 01 (một) bút châm cứu, màu trắng đen;

- 01 (một) cục phá sóng định vị 8 râu, có dòng chữ INDC12V.

Do đây là tài liệu giả bị cáo mua trên mạng nhưng chưa sử dụng và là các công cụ, phương tiện bị cáo chuẩn bị để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, hành vi vi phạm pháp luật nên cần tịch thu tiêu hủy.

* Đối với các vật chứng gồm:

- 01 (một) căn cước công dân và 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Văn T;

- 01 (một) đông hồ đeo tay bằng kim loại, màu vàng, có dòng chữ STARHAO;

- 01 (một) điện thoại di động Oppo, màu đỏ đen, số Imei: 869002031649755;

- 01(một) điện thoại di động có dòng chữ BMW, màu: vàng, số Imei: 355670184184134;

Do đây là các giấy tờ nhân thân và các tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Do các tài sản mà bị cáo đã trộm cắp được của anh Đỗ Văn T1 và anh Bùi Đình D, Cơ quan điều tra không thu hồi được để trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp và số tiền mặt 2.000.000đ trộm cắp của anh T1 bị cáo chưa bồi thường cho anh T1; trong khi các chủ sở hữu hợp pháp đều yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Tại phiên tòa bị cáo cũng đồng ý bồi thường cho anh T1 số tiền 17.323.000đ, bồi thường cho anh D số tiền 7.000.000đ. Vì vậy, cần buộc bị cáo bồi thường cho anh T1 số tiền 17.323.000đ, bồi thường cho anh D số tiền 7.000.000đ.

Về các vấn đề khác: Đối với Trần Văn Ngự không thừa nhận hành vi phạm tội cùng với bị cáo T, quá trình làm việc Ngự bị hen suyễn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã cho đối tượng về điều trị bệnh, sau đó xác minh Ngự không có mặt tại địa phương và đối tượng tên Cường chưa xác định được nhân thân. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bảo Lộc đã tách ra, tiếp tục xác minh xử lý là phù hợp.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/12/2020.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi thường cho anh Đỗ Văn T1 số tiền 17.323.000đ (Mười bảy triệu ba trăm hai mươi ba nghìn); bồi thường cho anh Bùi Đình D số tiền 7.000.000đ (Bảy triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

* Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) giấy đăng ký xe 43C1-21679, số: 005046, mang tên Lê Văn Hoàng và 01 (một) biển số 43C1 - 21679;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 31,5cm, hình trụ tròn, đường kính 2cm; một đầu đập dẹp phần đuôi có 2cm; một đầu hình chữ nhật 1,6 x 1cm, có quấn băng keo màu đen ở giữa và một sợi dây kẽm;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 38,5 cm, hình chữ nhật, đường kính 2 x 1,5 cm; một đầu đập dẹp phần đuôi có 2,3 cm; một đầu hình chữ nhật 1,4 x 1cm, có quấn băng keo màu đen ở giữa và một sợi dây kẽm;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 45,2cm, hình chữ nhật, đường kính 2 x 1cm; một đầu đập dẹp có 2,6cm; một đầu hình chữ nhật 1,6 x 1cm, có quấn băng keo màu đen ở giữa và một sợi dây kẽm;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 29cm, hình chữ nhật, đường kính 2,2 x 1cm; một đầu đập dẹp có 2,2cm; một đầu hình chữ nhật 1,6 x 0,8cm;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 22cm, hình trụ tròn, đường kính 1,4cm; một đầu đập dẹp 1,4cm;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 25cm, ở giữa hình trụ tròn, đường kính 2cm; một đầu đập dẹp 2cm; một đầu hình chữ nhật 1,1 x 0,8cm;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 29cm, bên trong rỗng, hình trụ tròn, đường kính 2,5cm; một đầu đập dẹp 3,3 x 0,7cm; một đầu đập dẹp 2,8 x 2cm;

- 01 (một) cục sắt hình chữ nhật có kích thước 3,1 x 7,5 x 1,5cm;

- 01 (một) cục sắt hình chữ nhật có kích thước 8 x 2,2 x 1,6cm;

- 01 (một) cà lê có chiều dài 13,5cm, một đầu 14, một đầu 10;

- 01 (một) mỏ lết có chiều dài 20cm, có dòng chữ BERRYLION;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 5,5cm, một đầu hình lục giác, một đầu dẹp;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 3,7cm, một đầu hình lục giác, một đầu dẹp;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 10,7cm, một đầu hình lục giác, một đầu dẹp;

- 01 (một) thanh sắt có chiều dài 10,5cm, một đầu hình lục giác, một đầu dẹp;

- 01 (một) ống sắt có dòng chữ PITTSBURGH 12;

- 01 (một) van dùng để phá khóa có dòng chữ SV81472, màu đen đỏ;

- 01 (một) súng điện, có dòng chữ 928TYPE;

- 01 (một) đèn pin, màu đen, có dòng chữ XML-T6;

- 01 (một) bút châm cứu, màu trắng đen;

- 01 (một) cục phá sóng định vị 8 râu, có dòng chữ INDC12V.

*Trả lại cho bị cáo Tâm:

- 01 (một) căn cước công dân và 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Văn T;

- 01 (một) đồng hồ đeo tay bằng kim loại, màu vàng, có dòng chữ STARHAO;

- 01 (một) điện thoại di động Oppo, màu đỏ đen, số Imei 869002031649755;

- 01 (một) điện thoại di động có dòng chữ BMW, màu vàng, số Imei 355670184184134;

* Giao 01 (một) giấy đăng ký xe 59F1-73767, số: 016851 mang tên Lê Viết Út và 01 (một) chiếc xe mô tô xe mô tô biển số 59F1-73767, số máy: 3035975 số khung 023383, nhãn hiệu Honda Future, màu sơn đỏ đen cho Cơ quan điều tra Công an thành phố Bảo Lộc tiếp tục xác minh, giải quyết theo quy định của pháp luật.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/3/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc).

4. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.216.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

“TrườnghợpbảnánđượcthihànhtheoquyđịnhtạiĐiều2củaLuậtThihànhándân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hànhán,quyềnyêucầuthihànhán,tựnguyệnthihànhánhoặcbịcưỡngchếthihànhántheo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ