vanban.org

Bản án 33/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Ninh Bình Tuyên án 12/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T1 phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn T1 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt 04 năm tù của bản án hình sự sơ thẩm số 10/2020/HS-ST ngày 22/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình về tội “Cướp giật tài sản”, buộc bị cáo Lê Văn T1 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T phạm tội Cướp tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T1 phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁNNHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2021/HS-ST
Ngày 12 - 11- 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁNNHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hiệp

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Ngọc Quang

Ông Đinh Văn Tuyển

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hoài Thu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânnhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Đặng Cao Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khaivụ án hình sự sơ thẩmthụ lý số: 31/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng11 năm 2021 đốivới bị cáo:

Lê Văn T1, sinh năm 1998 tại huyện T (nay là thị xã N), tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú thôn S, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hoá 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T2 và bà Cao Thị S; chưa có vợ; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:

- Tại Quyết định xử phạt hành chính ngày 09/9/2018 của Công an phường P, huyện T, thành phố Hồ Chí Minh phạt tiền 200.000 đồng với hành vi “Trêu ghẹo, xúc phạm nhân phẩm của người khác”. Bị cáo đã nộp phạt xong số tiền trên ngày 18/9/2018.

- Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2020/HS-ST ngày 22/5/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xử phạt Lê Văn T1 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Bị can đang chấp hành án tại Trại giam T, tỉnh Thanh Hóa (thuộc Bộ Công an) theo Quyết định thi hành án phạt tù số: 29/2020/QĐ-CA ngày 29/6/2020 của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình đến ngày 15/6/2021 trích xuất về tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay (có mặt).

- Bị hại: Chị Riggi S, sinh năm 1997; nơi cư trú: số ... đường V, 201... Milano, nước Cộng hòa I-ta-li-a; không ủy quyền cho ai tham gia tố tụng và từ chối việc nhận lại tài sản đã bị chiếm đoạt (vắng mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Trương Văn T3, sinh năm 1968; nơi cư trú: Số 143 đường Đinh Công T, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)

- Người làm chứng: Anh Lê Minh T4; Anh Pietro P.... (đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ này 24/7/2020, Lê Văn T1 một mình điều khiển xe mô tô Honda Winner biển kiểm soát 36C1-374... đi từ nhà ra khu du lịch của tỉnh Ninh Bình với mục đích thấy ai sơ hở trong việc quản lý tài sản thì chiếm đoạt bán lấy tiền ăn tiêu. Trên đường đi T1 đã lấy cờ - lê tháo biển kiểm soát của xe bỏ vào trong ba lô mang theo để tránh bị phát hiện sau đó Tú đi vào khu du lịch H thuộc địa phận xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình phát hiện thấy chị Chị Riggi S..., sinh năm 1997 đi cùng với bạn là anh Pietro P..., sinh năm 1993 đều mang quốc tịch Italia đang đạp xe đạp đi trên đường liên xã từ khu du lịch H đến thôn K, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình thấy chị Riggi S... đạp xe đi trước xe của anh Pietro P..., T1 liền điều khiển xe mô tô đi từ phía sau lên ép sát vào phía bên trái xe đạp của chị Riggi S... đồng thời T1 dùng tay tay phải giật chiếc ba lô của chị Riggi S... đang để ở giỏ xe trước ghi đông xe đạp sau đó tăng ga bỏ chạy. Trên đường về tỉnh Thanh Hóa, T1 dừng lại lắp biển kiểm soát của xe vào và mở ba lô ra kiểm tra, trong ba lô có: 01 máy ảnh nhãn hiệu Cannon DS126291 trên thân máy ký hiệu EOS 1100D; 440 Euro và 800.000 đồng VNĐ. Tú lấy máy ảnh, 440 Euro và 800.000 VNĐ còn ba lô T1 ở khu vực cầu Đ thuộc xã X, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa sau đó đi về nhà.

Ngày 25/7/2019, Tú đến Ngân hàng ViettinBank chi nhánh Thanh Hóa đổi 300 Euro được 7.716.000 đồng, đến Ngân hàng Vietcombank chi nhánh N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa đổi 140 Euro được 3.587.013 VNĐ. Ngày 28/7/2019, Tú mang máy ảnh Cannon DS126291 trên thân máy ký hiệu EOS 1100D bán cho anh Trương Văn Tuấn lấy 1.200.000 đồng.

Sau khi bị cướp giật tài sản chị Riggi S... và anh Pietro P.... đi về nơi thuê trọ là Khách sạn T thuộc thôn V, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình, chị Riggi S... đã nhờ anh Lê Minh T4 là chủ khách sạn trình báo với Cơ quan công an để tìm lại tài sản sau đó chị Riggi S.... và anh Pietro P.... trả phòng tiếp tục đi du lịch và về nước. Ngày 24/7/2020, anh Lê Minh T4 đã làm đơn trình báo với đồn công an T thuộc Công an huyện H, tỉnh Ninh Bình về việc chị Riggi S.... bị cướp giật tài sản gồm: 01 ba lô bên trong có 01 máy ảnh nhãn hiệu Cannon DS126291 trên thân máy ký hiệu EOS 1100D; 440 Euro và 800.000 đồng VNĐ.

Quá trình điều tra anh Trương Văn T3 đã giao nộp cho Cơ quan điều tra Công an tỉnh Ninh Bình máy ảnh nhãn hiệu Cannon DS126291 trên thân máy ký hiệu EOS 1100D.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐG ngày 22 tháng 11 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình kết luận: “01 máy ảnh nhãn hiệu Cannon DS126291 trên thân máy ký hiệu EOS 1100D trị giá 2.500.000 đồng; 440 Euro x 25.535 VNĐ/Euro trị giá là 11.235.400 đồng. Tổng là 13.735.400 đồng”.

* Kết quả tƣơng trợ tƣ pháp về hình sự:

Ngày 21/12/2019, Vụ hợp tác quốc tế về tương trợ tư pháp về hình sự (V13) thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã có công văn số 6425/VKSTC - V13 (kèm theo văn bản ủy thác tương trợ tư pháp về hình sự số 05/UTTPHS-PC01 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình yêu cầu thu thập thông tin về chị Riggi .... và anh Pietro P.... gửi đến Bộ tư pháp nước Cộng hòa I-ta-li-a.

Ngày 05/3/2021, Cục lãnh sự Bộ ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có công văn số 662/LS-QLHS thông báo kết quả yêu cầu tương trợ tư pháp theo đề nghị tại công văn số 6425/VKSTC - V13 của Vụ hợp tác quốc tế và tương trợ tư pháp về hình sự Viện kiểm sát nhân dân tối cao, kết quả như sau:

Chị Riggi Stella sinh ngày 26/7/1997 tại Milan, cư trú tại số ..., đường V, 201... Milano nước Cộng hòa I-ta-li-a, hộ chiếu số YB 51723... do Sở cảnh sát Milan cấp ngày 10/5/2019, điện thoại 33310732.... Chị Riggi S... khai báo: “Ngày 24/7/2019, đi du lịch ở Việt Nam tai khu T, tỉnh Ninh Bình bị một người đàn ông đi xe máy chộp lấy ba lô để trong giỏ xe đạp, tài sản bị mất gồm: 01 ba lô bên trong có 01 máy ảnh nhãn hiệu Cannon DS126291 trên thân máy ký hiệu EOS 1100D; 440 Euro và tiền nội tệ, chị Riggi S.... không ủy quyền cho người khác và không lấy lại tài sản đã mất”.

Anh Pietro P...., sinh ngày 23/10/1993, cư trú tại: Số ..., đường B, Milan, nước Cộng hòa I-ta-li-a, hộ chiếu số YA 9409.... do Sở cảnh sát Varese cấp ngày 06/6/2016, điện thoại 347.70059..... Anh Pietro P.... khai: “Vào tháng 7/2019, đi du lịch ở Việt Nam cùng vợ chưa cưới là Riggi S.... khi mỗi người đi một xe đạp thì có một người đàn ông đi xe máy chạy đến bên cạnh vợ tôi đang đi ở phía trước chộp lấy chiếc túi xách đang để trong giỏ xe đạp rồi bỏ chạy, tài sản bị mất gồm: 01 ba lô bên trong có 01 máy ảnh nhãn hiệu Cannon, giấy tờ tùy thân và khoảng 300 đến 400 Euro”.

Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKS-P2 ngày 04 tháng 10 năm 2021 Viện kiểm sát nhân dân tỉ nh Ninh Bình truy tố bị can Lê Văn T1 về tội “Cướp giật tài sản” theo quy đị nh tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tại phiên tòa sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, xem xét hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị: Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn T1 phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, các điểm b, s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự đề xử phạt bị cáo Lê Văn T1 từ 3 đến 4 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt 04 năm tù của bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2020/HS-ST ngày 22/5/2020 Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình về tội “Cướp giật tài sản”, buộc bị cáo Lê Văn T1 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 7 đến 8 năm tù, được trừ đi thời gian đã chấp hành bản án trước.

Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Buộc bị cáo Lê Văn T1 phải nộp lại giá trị tài sản chiếm đoạt là số tiền 12.035.400 đồng cùng với chiếc máy ảnh đã thu giữ để sung ngân sách Nhà nước.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn T1 thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉ nh Ninh Bình đã truy tố đối với bị cáo. Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, hứa cải tạo tốt để có cơ hội sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn T1 khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng và vật chứng thu giữ cùng các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản định giá tài sản vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 15 giờ ngày 24/7/2019, tại đường liên xã thuộc địa phận xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình, Lê Văn T1 đã có hành vi sử dụng xe môtô Honda Winner, BKS 36C1-374.... áp sát vào phía bên trái xe đạp của chị Riggl S... Quốc tịch I-ta-li-a và dùng tay phải giật chiếc ba lô đang để ở giỏ trước ghi đông xe đạp, rồi điều khiển xe bỏ chạy, chiếm đoạt của chị Riggl Stella tài sản trị giá là 14.535.400 đồng gồm: 01 máy ảnh nhãn hiệu “Canon” trị giá 2.500.000 đồng, 440 Euro (quy đổi là 11.235.400 đồng) và 800.000 đồng tiền Việt Nam. Hành vi nói trên của Lê Văn T1 đã phạm tội “Cướp giật tài sản” thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Điều 171. Tội cướp giật tài sản.

1.Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm

a) ………………………………...

d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm.

……………………………………

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố đối với bị cáo Lê Văn T1 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là sử dụng xe mô tô làm phương tiện để cướp giật tài sản là dùng thủ đoạn nguy hiểm, Lê Văn T1 đã chiếm đoạt tài sản của chị Riggl S.... Quốc tịch I-ta-li-a xảy ra tại xã N, huyện H. Hành vi phạm tội của Lê Văn T1 rất nghiêm trọng, đối tượng giật cướp tài sản lại nhằm vào khách du lịch người nước ngoài thì lại càng nghiêm trọng hơn, làm ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín về đất nước, con người Việt Nam, nhất là địa điểm cướp giật lại là khu du lịch nổi tiếng nằm trong quần thể danh thắng di sản thế giới được UNESCO công nhận.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T1 không có tình tiết tăng nặng.Tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu, đã có 01 tiền sự, bị phạt hành chính 200.000 đồng về hành vi “Trêu ghẹo, xúc phạm nhân phẩm của người khác”.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Văn T1 đã thành khẩn khai bá o, gia đình bị cáo đã trả lại cho anh Trương Văn T3 số tiền 1.200.000 đồng để khắc phục hậu quả. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần xem xét áp dụng để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình.

Căn cứ vào tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy hành vi phạm tội của Lê Văn T1 cần phải được xử lý thật nghiêm khắc cách ly bị cáo với xã hội một thời gian đủ để giáo dục con người Tú trở thành người tốt có ích cho xã hội và cũng để răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Hội đồng xét xử thấy cần tổng hợp hình phạt của Bản án này với hình phạt 04 năm tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2020/HS-ST ngày 22/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình về tội “Cướp giật tài sản”, buộc bị cáo Lê Văn T1 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ của lần phạm tội đã được xét xử ngày 03/8/2019.

Trong vụ án này có anh Trương Văn T3 là người đã mua máy ảnh của T1 với giá 1.200.000 đồng, anh T3 không biết chiếc máy ảnh đó là do T1 phạm tội mà có, nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với anh T3 là đúng pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại là chị Riggi S.... không ủy quyền cho ai tham gia tố tụng và từ chối việc nhận lại tài sản đã bị chiếm đoạt; anh Trương Văn T4 là người đã mua máy ảnh của T1 với giá 1.200.000 đồng.Ngày 04/8/2019 ông Lê Văn T2 là bố đẻ của T1 đã trả lại cho anh T3 số tiền 1.200.000 đồng, anh T3 đã nhận lại tiền và không có ý kiến gì khác. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng.

Ngày 03/8/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành truy tìm vật chứng là chiếc ba lô ở khu vực cầu Đ thuộc xã X, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, nhưng không thu hồi được. Vật chứng đã thu giữ gồm “01 máy ảnh nhãn hiệu Canon DS126291 trên thân máy ký hiệu E0S 1100D và 01 ống kính kèm theo máy cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Người bị hại là chị Riggi S.... từ chối việc nhận lại tài sản đã bị chiếm đoạt nên Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo T1 phải nộp lại giá trị tài sản chiếm đoạt với số tiền 12.035.400 đồng và 01 chiếc máy ảnh “Canon” đã bị thu giữ nói trên để ngân sách Nhà nước.

Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng và Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng; do đó các hành vi; quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về án phí: Bị cáo Lê Văn T1 bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật .

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55; khoản 1 Điều 56; Điều 47 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T1 phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn T1 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt 04 năm tù của bản án hình sự sơ thẩm số 10/2020/HS-ST ngày 22/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình về tội “Cướp giật tài sản”, buộc bị cáo Lê Văn T1 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 03/8/2019.

2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Buộc bị cáo Lê Văn T1 phải nộp lại giá trị tài sản chiếm đoạt là số tiền 12.035.400 đồng để sung ngân sách Nhà nước

Tịch thu để sung ngân sách Nhà nước 01 máy ảnh nhãn hiệu Canon DS126291 trên thân máy ký hiệu E0S 1100D và 01 ống kính kèm theo máy.

(Chi tiết như biên bản bàn giao vật chứng ngày 07 tháng 10 năm 2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình và Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình).

3. Án phí: Bị cáo Lê Văn T1 phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ