vanban.org

Bản án 33/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai Tuyên án 19/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Dương Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Dương Anh T 03 ( a) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/9/2020. Buộc bị cáo Dương Anh T phải nộp 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "DƯƠNG A T TRỘM CẮP TÀI SẢN - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN P

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH GIA LAI
__________________
Bản án số: 33/2021/HS-ST
Ngày 19 tháng 8 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa P3ên tòa: Ông Võ Văn Quảng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trương Công Chự

Ông Nguyễn Ngọc Bình

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Quang Huy – Thư ký Toà án nhân dân huyện P, tỉnh Gia Lai

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Gia Lai tham gia P3ên tòa:

Ông Nguyễn Sỹ Kiên – Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2021/TLST-HS ngày 21 tháng 05 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2021/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:

Dương Anh T, sinh năm 1981 tại huyện B, tỉnh Thái Nguyên.

Nơi cư trú: L, xã O, huyện P, tỉnh Gia Lai

Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Dương Văn L, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1962

Có vợ Trần Thị T1, sinh năm 1986 đã ly hôn

Tiền sự: Không;

Tiền án:

Ngày 28/6/2005 bị Tòa án huyện B xử phạt 15 tháng tù tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự 1999. Hiện đã chấp hành xong án phạt tù

Ngày 18/11/2014 bị Tòa án huyện P xử phạt 40 tháng tù tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự 1999. Đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích

Ngày 11/9/2018 bị Tòa án huyện P xử phạt 24 tháng tù tội “Trộm cắp tài sản”. quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015. Ngày 14/02/2020 Dương Anh T chấp hành xong án phạt tù

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/9/2020 đến nay. Có mặt tại P3ên toà.

Người bị hại:

1. Ông Phạm Văn C, sinh năm 1986

Địa chỉ: Làng G, xã O, huyện P. Vắng mặt

2. Anh Kpă P1, sinh năm 1991

Địa chỉ: Làng B, xã Ia B, huyện P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

3. Anh Siu I, sinh năm 1992

Địa chỉ: Làng A, xã G, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Chí T3, sinh năm 1999

Địa chỉ: Làng K, xã P, huyện P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

2. Bà Ngô Thị N, sinh năm 1949

Địa chỉ: Làng L, xã O, huyện P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại P3ên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tại bản cáo trạng số 29/CT-VKS ngày 21/5/2021, bị cáo Dương Anh T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Gia Lai truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Từ ngày 22/8/2020 đến ngày 22/9/2020, Dương Anh T đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản như sau:

Vụ thứ nhất: Vào chiều ngày 22/8/2020, Dương Anh T r đối tượng tên là Lưu Công P3 (Sinh năm: 1990; Trú tại: Thôn H, xã D, huyện P) đi trộm cắp tài sản thì P3 đồng ý, P3 hỏi T trộm ở đ u thì T n i “không iết”, P3 ảo “Em c chỗ này để em dẫn anh đi”, P3 điều khiển xe mô tô c a P3 (chưa rõ iển kiểm soát) chở T đi đến khu vực đội 27, Nông trường cao su A thuộc địa phận xã B, huyện P thì thấy tại lán m cao su có 03 chiếc xe mô tô không c người trông coi để gần nhau, lúc này T xuống xe, đi lại chỗ chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius BKS 81P4 – 4576 c a anh Kpă P1 (Sinh năm: 1991; Trú tại làng B, xã B) đang để tại đ y, quan sát xung quanh không thấy ai, lúc này T đạp xe để khởi động máy thì xe nổ (Xe không gắn chìa khóa), T điều khiển xe mô tô trộm cắp được còn P3 đi xe c a P3 về nhà T tại làng L, xã O, trên đường về T nhờ P3 tháo biển số xe trộm cắp được vứt trên đường đi. Tại nhà T nói với P3 là “Việc c a anh đến đ y đã xong, còn lại là việc c a mày” thì P3 n i “Anh cứ để em”, sau đó P3 điều khiển xe mô tô vừa lấy trộm được còn T điều khiển xe c a P3 cả hai cùng đi đến tiệm sửa xe máy Út T3 c a Nguyễn Chí T3 ở làng K, xã P để bán cho T3. Tại đ y, P3 vào giao dịch mua bán xe với T3 còn T đứng ngoài không vào, một lúc sau P3 đi ra và n i T3 đồng ý mua xe giá một triệu, T đồng ý bán, P3 ra và đưa cho T 500.000đ, còn lại P3 cầm 500.000đ, số tiền này T và P3 tiêu xài hết.

Vụ thứ hai: Vào khoảng 15 giờ chiều ngày 03/9/2020, do không có tiền tiêu xài nên T nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản, T đi dạo vào khu vực rẫy điều c a anh Phạm Văn C (Sinh năm: 1986; Trú tại: Làng K, xã P) thì thấy c 01 máy phay mì để tại rẫy không có ai trông coi, T nảy sinh ý định trộm cắp máy này nên về nhà anh Bùi Văn B (Sinh năm: 1972; trú tại làng K, xã O), T n i “Cho em mượn xe một tí”, anh B n i không cho nhưng T năn nỉ nên anh B đồng ý cho mượn. T mang xe lôi vào rẫy điều c a anh C để lại đ y. Sáng ngày 04/9/2020 T đến nhà Rơ Mah P (Sinh năm: 2000; Trú tại Làng K, xã O) thì gặp Trần Văn V (Sinh năm: 1962; trú tại Thôn H, xã D) đang uống rượu tại đ y, ngồi uống một lúc T r V ra ngoài nói với V “Tôi mua máy cắt cỏ cho bò trong P, bác vào chở giúp tôi, tôi trả bác 500.000đ” thì ông V đồng ý. Sau đ , T điều khiển xe mô tô c a V chở V đi, đến rẫy điều c a anh C thì V thấy 01 máy phay mì và 01 xe lôi đã để sẵn ở đ y, V hỏi T “Máy này c a ai” T n i “C a người bên B” sau đ T và Vịnh cùng đưa máy phay mì lên xe lôi và uộc sau xe máy, T điều khiển xe chở ông V ngồi sau kéo xe lôi chở máy phay mì về. Trên đường về tới rừng khoanh, xã P thì xe mô tô bị hư, T đi gọi thợ về sửa xe. Sau khi sửa xe xong ông V không kéo máy phay mì nữa do đau tay và do c công việc khác nên nói T chở V về nhà. T đẩy máy phay mì vào giấu trong rừng khoanh và chở V về. Đến chiều tối cùng ngày T có nói với Dương Văn T2 (Sinh năm: 1984; L, xã O; là em trai c a T), “Mày vào rừng kéo giùm tao xe lôi về trả cho anh B” thì T2 đồng ý, Khi vào tới rừng, T2 thấy có máy phay mì buộc trên xe lôi nên hỏi T “Máy mua hay ở đ u mà c ”, T n i “Mua hộ cho người ta”, T2 điều khiển xe chở T ngồi sau kéo xe lôi và máy phay mì về, trên đường về T nói T2 chở về nhà bà Ngô Thị N (Sinh năm: 1949; làng L, xã O; là mẹ vợ cũ c a T) vì T mua hộ máy phay mì cho bà N. Khi kéo máy về nhà bà N thì T đi trả xe lôi còn T2 ở lại nên Bà N đưa 2 triệu cho T2 nhờ đưa cho T. Số tiền này T đưa cho T2 650.000 đồng để mua đồ ăn, còn lại 1.350.000đ T tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ ba: Vào khoảng 15 giờ ngày 22/9/2020, T bắt xe buýt từ huyện P đi đến Thành phố P để xin việc làm, do không xin được việc nên T bắt xe buýt về, trên đường về T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên đến địa phận làng A, xã G, thành phố P, T xuống xe đi ộ vào làng A, xã G, tìm tài sản sơ hở để trộm cắp, khi T đi tới nhà anh Siu C2 (Sinh năm: 1987; Trú tại: Làng A, xã G) thấy có một chiếc xe mô tô BKS 81B2 – 77784 c a anh Siu I (Sinh năm: 1992; trú tại: Làng A, xã G, Thành phố P) đang dựng ở trong sân nhà, xe có cắm sẵn chìa khoá, lúc này T quan sát thấy không c người trông coi tài sản nên T đi vào sân, dắt xe ra khoảng 100m thì T nổ máy và điều khiển xe chạy về nhà tại Làng L, xã O, huyện P. Sáng ngày 23/9/2020 T đem xe trộm cắp được tháo biển số rồi chạy xe đến bán cho tiệm sửa xe UT ở xã Ia Puch. Tại đ y T gặp và hỏi T3 “Anh c xe này án em mua không”, T3 hỏi “Xe c a ai, có giấy tờ không” T n i “Xe c a nhà anh, giấy tờ anh để ở nhà” thì T3 đồng ý mua với giá 1.000.000 đồng nhưng đưa trước 500.000 đồng, còn lại 500.000 khi nào mang giấy tờ xe đến sẽ đưa tiếp. Do T3 không đ tiền nên nói với ông Nguyễn N (Sinh năm: 1968; Trú tại: Làng K, xã P) là bố c a T3 đưa cho T 500.000đ, số tiền này T đã tiêu xài cá nhân hết.

Vật chứng vụ án:

+ 01 máy phay mì không nhãn hiệu, bằng kim loại kích thước 1,2 x 1,2x 0,7m; 01 xe mô tô hiệu amaha, loại Sirius, màu đen, số khung 308Y192387, số máy 5C63192387 không gắn biển số; 01 xe mô tô hiệu Lifan, màu xanh, số khung 310010351911, số máy: FNG 310351965 không có biển số và 01 biển số 81B2-777.84 sau khi thu giữ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trao trả cho ch sở hữu hợp pháp là anh Phạm Văn C; anh Kpă P1; anh Siu I. (Bút lục: 87-88; 232)

+ 01 BKS 81P4-4576 c a xe mô tô hiệu amaha, loại Sirius, màu đen, số khung 308Y192387, số máy 5C63192387 c a anh Kpă P1. Quá trình điều tra xác định sau khi trộm cắp tài sản, T và P3 đã tháo iển số xe và vứt trên đường đi từ xã Ia Bòong về xã Ia O, huyện P, bị can không nhớ vứt biển số tại khu vực nào, do đ Cơ quan điều tra không c cơ sở để truy tìm nên không thu giữ được.

Trách nhiệm dân sự:

- Bị hại anh Phạm Văn C, Kpă P1 và Siu I đã nhận lại được tài sản bị trộm cắp nên cũng không yêu cầu gì thêm phần dân sự.

- Nguyễn Chí T3 là người đã mua lại 02 xe mô tô trộm cắp với giá 1.500.000đ, quá trình điều tra T3 không yêu cầu T phải trả lại số tiền T3 bỏ ra mua xe.

- Bà Ngô Thị N là người mua lại máy phay mỳ c a T bán với giá 2 triệu. Bà N cũng không yêu cầu T phải trả lại tiền cho mình.

Tại phiên tòa, bị cáo Dương Anh T thừa nhận hành vi phạm tội như Viện kiểm sát nhân dân huyện P đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản cáo trạng số 29/CT-VKS ngày 21/5/2021 c a Viện kiểm sát nhân dân huyện P, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 c a Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự ; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 c a Bộ luật hình sự 2015 xử phạt

Bị cáo Dương Anh T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù

Buộc bị cáo phải nộp 3.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính để sung công quỹ Nhà nước.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định c a pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại P3ên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1] Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cung cấp được thu thập hợp pháp. Hành vi, quyết định tố tụng c a Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử được thực hiện đúng theo quy định c a pháp luật.

Về hành vi phạm tội:

Lời khai c a bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng chứng cứ đã được kiểm tra, tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử c cơ sở khẳng định:

Vào chiều ngày 22/8/2020, bị cáo Dương Anh T r Lưu Công P3 đi trộm cắp tài sản. P3 điều khiển xe c a P3 chở bị cáo đi đến khu vực đội 27 Nông trường cao su An Phú thuộc xã B, huyện P thì phát hiện 03 chiếc xe mô tô không c người trông coi để gần nhau, lúc này bị cáo xuống xe, đi lại chỗ chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius BKS 81P4 – 4576 đang để tại đ y, quan sát xung quanh không thấy ai, bị cáo đạp xe để khởi động máy thì xe nổ, bị cáo điều khiển xe về nhà ở làng L, xã O huyện P, sau đ P3 điều khiển xe trộm cắp được đến bán cho anh Nguyễn Chí T3 tại làng K, xã P được 1.000.000 đồng. P3 chia cho T 500.000 đồng.

Vào khoảng 15 giờ chiều ngày 03/9/2020, bị cáo Dương Anh T đi vào khu vực rẫy Điều c a anh Phạm Văn C tại Làng K, xã P thì thấy c 01 máy phay mì để tại rẫy không có ai trông coi, bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp máy này nên về nhà anh Bùi Văn B tại làng K, xã O mượn và mang xe lôi c a anh B vào rẫy điều c a anh C để lại đ y. Sáng ngày 04/9/2020 bị cáo đến nhà Rơ Mah P tại Làng K, xã O thì gặp Trần Văn V, T r V ra ngoài nói với V “Tôi mua máy cắt cỏ cho bò trong Ia Puch, bác vào chở giúp tôi, tôi trả bác 500.000đ” thì V đồng ý. Sau đ , T điều khiển xe mô tô c a V chở V đi, đến rẫy Điều c a anh C thì V thấy 01 máy phay mì và 01 xe lôi đã để sẵn ở đ y, V hỏi T “Máy này c a ai” T n i “C a người bên B” sau đ T và V cùng đưa máy phay mì lên xe lôi và uộc sau xe máy, T điều khiển xe chở ông V ngồi sau kéo xe lôi chở máy phay mì về. Trên đường về tới rừng, xã P thì xe mô tô bị hư, T đi gọi thợ về sửa xe. Sau khi sửa xe xong ông V không kéo máy phay mì nữa do đau tay và do c công việc khác nên nói T chở V về nhà. T đẩy máy phay mì vào giấu trong rừng và chở V về. Đến chiều tối cùng ngày T có nói với Dương Văn T2 là em trai c a T vào rừng kéo giùm tao xe lôi về thì T2 đồng ý, Khi vào tới rừng, T2 thấy có máy phay mì buộc trên xe lôi nên hỏi T “Máy mua hay ở đ u mà c ”, T n i “Mua hộ cho người ta”, T2 điều khiển xe chở T ngồi sau kéo xe lôi và máy phay mì về nhà bà Ngô Thị N tại làng L, xã O. Khi kéo máy về nhà bà N thì T đi trả xe lôi còn T2 ở lại nên Bà N đưa 2 triệu cho T2 nhờ đưa cho T. Số tiền này T đưa cho T2 650.000 đồng để mua đồ ăn, còn lại 1.350.000đ T tiêu xài cá nhân hết.

Vào khoảng 15 giờ ngày 22/9/2020, bị cáo bắt xe buýt từ PleIu về P, đến địa phận làng A, xã G, thành phố P, T xuống xe đi ộ vào làng A, xã G đi tới nhà anh Siu C thấy có một chiếc xe mô tô BKS 81B2 – 77784 đang dựng ở trong sân nhà, xe có cắm sẵn chìa khoá, lúc này bị cáo quan sát thấy không c người trông coi tài sản nên đi vào s n, dắt xe ra khoảng 100m nổ máy và điều khiển xe chạy về nhà tại Làng L, xã O, huyện P. Sáng ngày 23/9/2020 T đem xe trộm cắp được tháo biển số rồi chạy xe đến bán cho tiệm sửa xe UT ở xã P với giá 1.000.000 đồng, nhận trước 500.000 đồng, số tiền này T đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại các Bản kết luận định giá tài sản số 45/KLĐ ngày 30/9/2020 và số 25 ngày 29/01/2021 c a ội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: 01 xe mô tô BKS: 81 4-4576 hiệu amaha, loại Sirius c giá trị thành tiền là 9.800.000 đồng và 01 máy phay mì c giá 1.100.000 đồng; 01 xe mô tô hiệu Lifan BKS: 81B2-777.84 có giá: 2.800.000đ.

Tổng tài sản mà bị cáo chiếm đoạt trong 3 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt là là 13.700.000 đồng.

Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản với tổng trị giá 13.700.000 đồng đồng c a bị cáo Dương Anh T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào quyền sở hữu tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ, đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại Điều 173 c a Bộ luật hình sự 2015. Bị cáo đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, do vậy tội phạm mà bị cáo đã thực hiện thuộc trường hợp định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 c a Bộ luật hình sự 2015.

Về tính chất c a tội phạm

Bị cáo Dương Anh T nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản c a người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì động cơ vụ lợi cá nhân, muốn có tiền để tiêu xài cá nhân, bị cáo đã lợi dụng sơ hở c a ch sở hữu quản lý tài sản để lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 chiếc mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius BKS 81P4 – 4576 c a anh Kpă P1; 01 máy phay mì c a anh Phạm Văn C và một chiếc xe mô tô BKS 81B2 – 77784 c a anh Siu I . Hành vi phạm tội c a bị cáo không những xâm phạm vào quyền sở hữu tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an, g y hoang mang trong dư luận quần chúng, ảnh hưởng đến công cuộc phát triển kinh tế xã hội ở địa phương, thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần phải xử lý nghiêm khắc.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Bị cáo có nhân thân xấu, từ năm 2005 cho đến lần bị xét xử ngày hôm nay, bị cáo đã 3 lần bị toà án có thẩm quyền xét xử và kết án về tội phạm chiếm đoạt tài sản. Tại lần phạm tội này, bị cáo đã đầu thú, thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải. Đ y là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 c a Bộ luật hình sự sẽ được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt.

Bị cáo 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp với tài sản trộm cắp trên 2.000.000 đồng, do vậy bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “ hạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 c a Bộ luật hình sự.

Về hình phạt

Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội c a hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo.

Về biện pháp tư pháp:

Đối với số tiền bị cáo c được do tiêu thụ các tài sản trộm cắp mà có tổng cộng là 3.000.000 đồng, những người mua tài sản c a bị cáo không biết được tài sản bị cáo đã án là tài sản do phạm tội mà có và không yêu cầu bồi thường, do vậy cần buộc bị cáo phải nộp số tiền 3.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.

Về dân sự:

Những người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường. Những người đã trả tiền cho bị cáo để mua các tài sản do bị cáo trộm cắp không yêu cầu bị cáo phải trả lại tiền, do vậy không xem xét về dân sự.

Về vật chứng:

+ Đối với 01 máy phay mì không nhãn hiệu, bằng kim loại kích thước 1,2 x 1,2x 0,7m; 01 xe mô tô hiệu amaha, loại Sirius, màu đen, số khung 308Y192387, số máy 5C63192387 không gắn biển số; 01 xe mô tô hiệu Lifan, màu xanh, số khung 310010351911, số máy: FNG 310351965 không có biển số và 01 biển số 81B2-777.84 sau khi thu giữ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trao trả cho ch sở hữu hợp pháp là anh Phạm Văn C; anh Kpă P1; anh Siu I. Xét việc xử lý vật chứng trong quá trình điều tra là c căn cứ, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

+ 01 BKS 81P4-4576 c a xe mô tô hiệu amaha, loại Sirius, màu đen, số khung 308Y192387, số máy 5C63192387 c a anh Kpă P1. Quá trình điều tra xác định sau khi trộm cắp tài sản, T và P3 đã tháo iển số xe và vứt trên đường đi từ xã B về xã O, huyện P, bị can không nhớ vứt biển số tại khu vực nào, do đ Cơ quan điều tra không c cơ sở để truy tìm nên không thu giữ được. Do vậy không c cơ sở để xử lý.

Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định c a pháp luật

Đối với Bùi Văn B, Trần Văn V và Dương Văn T2 là những người mà bị cáo đã mượn xe lôi, thuê và nhờ điều khiển xe mô tô để vào kéo máy phay mì tại làng Chư K , xã Ia Puch ngày 04/9/2020. Quá trình phạm tội bị cáo không nói và những người này cũng không biết máy phay mì là tài sản do T trộm cắp mà c nên không đ căn cứ để xử lý đối với Bùi Văn B, Trần Văn V và Dương Văn T2.

Đối với Nguyễn Chí T3 và bà Ngô Thị N người mua xe mô tô và máy phay mì do bị cáo trộm cắp mà c nhưng anh T3 và bà N không biết những tài sản trên do bị cáo trộm cắp mà c nên không đ cơ sở để xử lý hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà c ” đối với Nguyễn Chí T3 và bà Ngô Thị N.

Đối với Lưu Công P3 là người bị cáo khai cùng thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô với T ngày 22/8/2020 tại nông trường cao su A, xã B. Quá trình điều tra xác minh nhiều lần đối tượng P3 không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra chưa làm rõ được việc P3 có tham gia trộm cắp tài sản cùng với T hay không. Cơ quan điều tra đã ra thông áo truy tìm số 186/TB-CS S ngày 13/4/2021 đối với Lưu Công P3, khi đ căn cứ sẽ xử lý theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Dương Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015

Xử phạt bị cáo Dương Anh T 03 ( a) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/9/2020.

Áp dụng Điều 47 của của Bộ luật hình sự 2015;

Buộc bị cáo Dương Anh T phải nộp 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước.

Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH

Buộc bị cáo Dương Anh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại P3ên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ