- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "VỤ Th -D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Minh Th
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2021/HNGĐ - ST Ngày 10/9/2021 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Phạm Minh Phúc;
2/ Bà Nguyễn Thị Thu Dung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Dung là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 10/9/2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện M xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 112/2021/TLST – HNGĐ, ngày 11 tháng 5 năm 2021 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2021/QĐXXST- HNGĐ, ngày 05 tháng 8 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 27/2021/QĐST - HNGĐ, ngày 30 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Minh Th
Địa chỉ: Thôn Tú Sơn 2, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.
Bị đơn: Anh Huỳnh Ngọc D.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.
Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ 02 (hai) không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/4/2021; các lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Phạm Thị Minh Th trình bày:
Chị và anh Huỳnh Ngọc D tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 09/11/2016. Sau khi cưới, vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến tháng 3/2020 thì phát sinh mâu thuẫn do anh D không có chính kiến, anh D đi làm kiếm được bao nhiều tiền thì đưa hết cho mẹ nên mẹ chồng chị nắm thu - chi nhưng không minh bạch, rõ ràng, anh D có tính gia trưởng, nghe lời mẹ không tôn trọng vợ, không có trách nhiệm với con cái và sự bất hòa của gia đình đôi bên nên từ tháng 10/2020 vợ chồng chị không sống chung với nhau nữa. Nay, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh D.
Về con chung: Chị và anh D có 01 con chung Huỳnh Gia M, sinh ngày 18/3/2017, con đang ở với chị, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con và yêu cầu anh D có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con mỗi tháng 2.000.000đ.
Về tài sản chung, nợ chung: Đều không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Huỳnh Ngọc D: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho bị đơn anh Huỳnh Ngọc D nhưng anh D không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cung cấp chứng cứ cho Tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; anh D không đến Tòa án làm việc, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; không tham gia phiên tòa.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành đúng quy định pháp luật của nguyên đơn. Riêng bị đơn thực hiện không đúng quy định pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Minh T là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Phạm Thị Minh Th được ly hôn anh Huỳnh Ngọc D; giao con chung Huỳnh Gia M, sinh ngày 18/3/2017 cho chị Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; về mức cấp dưỡng cho con: Buộc anh D phải cấp dưỡng cho con chung mỗi tháng 1.000.000đ là phù hợp với điều kiện thực tế của anh D; về tài sản chung, nợ chung: Không có. Ngoài ra, đương sự còn chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt cho bị đơn là anh Huỳnh Ngọc D các văn bản tố tụng theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh D đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh D đều không có mặt theo Thông báo và giấy triệu tập của Tòa.
Mặc dù, anh D biết Tòa án đang giải quyết vụ án dân sự ly hôn mà anh là bị đơn nhưng anh vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và không thực hiện nghĩa vụ chứng minh. Anh D phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn là anh Huỳnh Ngọc D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Duy.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Minh Th và anh Huỳnh Ngọc D kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào năm 2016 tại UBND xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị Th và anh D là hợp pháp.
Về tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng: Anh D có tính gia trưởng, không rõ ràng về thu nhập, không có trách nhiệm với vợ con ...Từ đó, giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình, từ tháng 10/2020 đến nay chị Th và anh D không còn sống chung với nhau, không ai quan tâm đến ai; chị Th yêu cầu ly hôn nhưng anh D không đến Tòa và không có ý kiến gì, có ý bỏ mặt...Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của chị Th và anh D đã trở nên trầm trọng, kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị Th là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được HĐXX chấp nhận.
Về con chung: Chị Th và anh Duy có 01 con chung là Huỳnh Gia M, sinh ngày 18/3/2017. Khi ly hôn chị Th có nguyện vọng được tiếp tục nuôi con, HĐXX xét thấy: Chị Th có việc làm, có thu nhập và đang trực tiếp nuôi con ổn định, hơn nữa cháu M còn nhỏ nên cần sự chăm sóc của mẹ trong khi đó anh D không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, nguyện vọng tiếp tục được nuôi con của chị Th là có căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được HĐXX chấp nhận.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Chị Th yêu cầu anh D cấp dưỡng cho con mỗi tháng 2.000.000đ. Theo khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Anh D hiện làm nghề tự do, có thu nhập nhưng không ổn định, đều này chị Th cũng thừa nhận, với mức cấp dưỡng mà chị Th yêu cầu là cao so với thu nhập thực tế của anh D nên HĐXX cần buộc anh D có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con Huỳnh Gia M, sinh ngày 18/3/2017 mỗi tháng 1.000.000đ là có căn cứ thực tế và phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Thời gian thực hiện việc cấp dưỡng tính từ ngày 10/9/2021 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi
Anh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; người có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con cũng phải chịu án phí không có giá ngạch nên căn cứ vào Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 6, khoản 5 và khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Chị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch số tiền là 300.000đ nhưng chị đã nộp tạm ứng án phí nên được khấu trừ xong. Anh D phải chịu án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng số tiền là 300.000đ.
Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39; các Điều 227, 228, 235, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS); các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 và Điều 118 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147 BLTTDS; Điều 6, Khoản 5 và Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Minh Th
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Minh Th được ly hôn anh Huỳnh Ngọc D
2. Về con chung: Giao con chung là Huỳnh Gia M, sinh ngày 18/3/2017 cho chị Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng định kỳ cho con: Anh Huỳnh Ngọc D có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con Huỳnh Gia M, sinh ngày 18/3/2017 mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng). Thời gian thực hiện việc cấp dưỡng tính từ ngày 10/9/2021 đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên HĐXX không xem xét.
4. Về án phí: Chị Phạm Thị Minh Th phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005951, ngày 11/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Quảng Ngãi nên được khấu trừ xong.
Anh Huỳnh Ngọc D phải chịu án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con số tiền là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10/9/2021), đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Quảng Ngãi;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện M;
- Chi cục THADS huyện M;
- Các đương sự;
- UBND xã Đ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Bích Vân
CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN-
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN-
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Thanh Đinh Công Thuyên
Nguyễn Thị Bích Vân Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Quảng Ngãi;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Mộ Đức;
- Chi cục THADS huyện Mộ Đức;
- Các đương sự;
- UBND xã Đức Lân;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Bích Vân Nguyễn Thanh Trƣơng
Nguyễn Kha
Nguyễn Thị Bích Vân
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Thanh Sơn Đặng Văn Minh
Nguyễn Thị Bích Vân
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND, THADS huyện; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |