vanban.org

Bản án 33/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;

Bà Phạm Thị L được ly hôn ông Hồ Minh D. Về con chung: Giao con tên Hồ Thị Yến V, sinh ngày 07/02/2009 cho bà Phạm Thị L tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Hồ Minh D được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị L/Hồ Minh D"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOÀI ÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 30-11-2021
V/v “Ly hôn, tranh chấpvề nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Quý Hòa;

2. Bà Nguyễn Thị Bích Hiển.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Thường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 30/11/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 91/2021/TLST-HNGĐ ngày 01/3/2021, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/10/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2021/QĐST-HNGĐ ngày 12/11/2021, giữa các bên đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1974;

Địa chỉ: thôn Đ, xã Ân Mỹ, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

2. Bị đơn: Ông Hồ Minh D, sinh năm 1971;

Địa chỉ: thôn Đ, xã Ân Mỹ, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 26/02/2021 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Phạm Thị L trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Hồ Minh D quen biết nhau, có tìm hiểu và tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ân Mỹ, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định vào năm 1993. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống với bà ngoại chồng ở thôn Đại Định, xã Ân Mỹ, huyện Hoài Ân. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, không xảy ra mâu thuẫn gì. Đến năm 2000, vợ chồng cùng vào Thành phố Hồ Chí Minh mua đất làm nhà ở cùng làm ăn. Đến khoảng năm 2010, ông D thường xuyên đi chơi với bạn bè, không lo làm ăn, từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, ông D xúc phạm và đánh đập bà, vợ chồng bà đã không còn chung sống từ năm 2017. Nay, xét thấy không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Hồ Minh D.

Về con chung: Vợ chồng bà có 03 con chung tên Hồ Ngọc A, sinh năm 1995; Hồ Thị Ngọc Y, sinh năm 1998; Hồ Thị Yến V, sinh ngày 07/02/2009; cháu A và cháu Y đã lớn, tự lập; còn cháu V đang ở với bà, nay bà yêu cầu Tòa án tiếp tục giao cho bà nuôi dưỡng; không yêu cầu ông Hồ Minh D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn ông Hồ Minh D: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, theo quy định tại Điều 177; 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng ông D không đến Tòa án trình bày ý kiến và hòa giải, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành các thủ tục tố tụng và đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

- Đại diện Viện kiểm sát huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong giai đoạn thụ lý hồ sơ, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, thời hạn chuẩn bị xét xử còn kéo dài.

Về hôn nhân: Xét thấy, tình cảm vợ chồng bà Phạm Thị L, ông Hồ Minh D không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Phạm Thị L ly hôn ông Hồ Minh D.

Về con chung: Đề nghị giao con chung tên Hồ Thị Yến V, sinh ngày 07/02/2009 cho bà Phạm Thị L tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng của bà L.

Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Phạm Thị L có đơn yêu cầu ly hôn ông Hồ Minh D. Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Hồ Minh D có hộ khẩu thường trú tại xã Ân Mỹ, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân.

Tại phiên tòa hôm nay, ông Hồ Minh D được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt; bà Phạm Thị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông D, bà L.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị L và ông Hồ Minh D quen biết nhau, có tìm hiểu và tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ân Mỹ, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định vào năm 1993, nên hôn nhân của vợ chồng ông bà là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống với bà ngoại chồng ở thôn Đại Định, xã Ân Mỹ, huyện Hoài Ân. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, không xảy ra mâu thuẫn gì. Đến năm 2000, vợ chồng cùng vào Thành phố Hồ Chí Minh mua đất làm nhà ở cùng làm ăn. Theo bà L trình bày, vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn là do khoảng năm 2010, ông D thường xuyên đi chơi với bạn bè, không lo làm ăn, từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, ông D xúc phạm và đánh đập bà; vợ chồng bà đã không còn chung sống từ năm 2017. Nay, bà L yêu cầu ly hôn ông D là có căn cứ để chấp nhận.

Còn đối với bị đơn ông Hồ Minh D: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, đã tiến hành các thủ tục thông báo thụ lý và thông báo các phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải hợp lệ, nhưng tất cả các buổi làm việc tại Tòa án ông D đều vắng mặt. Tại phiên tòa hôm nay, ông D cũng không có mặt, điều này chứng tỏ ông cũng không muốn níu kéo tình cảm vợ chồng, không muốn níu kéo cuộc hôn nhân của ông bà.

Xét thấy, tình cảm vợ chồng bà Phạm Thị L và ông Hồ Minh D mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cho dù có kéo dài cuộc sống vợ chồng cũng không hạnh phúc và thực tế họ đã không còn chung sống với nhau từ năm 2017, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại các Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Bà L, ông D có 03 con chung tên Hồ Ngọc A, sinh năm 1995; Hồ Thị Ngọc Y, sinh năm 1998; Hồ Thị Yến V, sinh ngày 07/02/2009; cháu A và cháu Y đã lớn, tự lập; còn cháu V hiện đang được bà L nuôi dưỡng ổn định, nên cần tiếp tục giao cho bà nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Phạm Thị L tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên cần ghi nhận sự tự nguyện của bà, ông D không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị L không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

Về án phí: Bà Phạm Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56; 81; 82; 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;

Bà Phạm Thị L được ly hôn ông Hồ Minh D.

2. Về con chung: Giao con tên Hồ Thị Yến V, sinh ngày 07/02/2009 cho bà Phạm Thị L tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Hồ Minh D được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Công nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà Phạm Thị L, ông Hồ Minh D không phải cấp dưỡng nuôi con.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

5. Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm, bà Phạm Thị L phải nộp 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001905 ngày 25/02/2021, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân.

6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ