vanban.org

Bản án 33/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về Điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 2 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 của Bộ luâ…

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh Lê Văn H được ly hôn với chị Trương Thị O. Về án phí: Anh Lê Văn H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về Điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 2 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 của Bộ luâ…
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 27-12-2021
V/v tranh chấp hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Trung Thông

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Quân và ông Trần Minh Đức

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Giang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh

Vào hồi 14 giờ 00 phút, ngày 27 tháng 12 năm 2021 tại Hội trường xét xử số I Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 18/2021/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2021/QĐXX-ST ngày 23 tháng 11 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2021/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Lê Văn H; Sinh năm 1978; Địa chỉ: Thôn Đại Đ, xã Cương Gián, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Chị Trương Thị O; Sinh năm 1978; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn Đại Đ, xã Cương Gián, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. (Hiện đã mất tích theo Quyết định số 04/2021/QĐST-DS ngày 30/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân); Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai của người xin ly hôn nguyên đơn anh Lê Văn H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn H và chị Trương Thị O được tự do tìm hiểu và đã đăng ký kết hôn ngày 12/4/2005 tại UBND xã Cương Gián, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn, vợ chồng về sống chung tại thôn Đại Đ, xã Cương Gián, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Đến năm 2016 chị Trương Thị O bỏ đi khỏi địa phương cho đến nay không thấy trở về, anh H đã liên lạc, tìm hiểu qua bố, mẹ và người thân chị O nhưng không có tin tức về việc chị O đang ở đâu, làm gì. Thời gian biệt tích của chị O đã hơn 02 năm nên anh H đã làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh tuyên bố chị Trương Thị O mất tích.

Ngày 30/9/2021 Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh đã tuyên bố chị Trương Thị O mất tích theo Quyết định số 04/2021/QĐST-DS ngày 30/9/2021. Từ khi Tòa án tuyên bố mất tích đến nay chị O cũng không có tin tức gì, nay anh H xác định không còn tình cảm yêu thương gì với chị Trương Thị O nữa, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy anh H đề nghị Tòa án xem xét cho ly hôn với chị Trương Thị O.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Trương Thị O mất tích cho đến nay không có tin tức gì nên Tòa án không tiến hành được các thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nội dung vụ án, Tòa án xác

định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn” theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn chị Trương Thị O nơi cư trú cuối cùng tại xã Cương Gián, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Nhưng trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là chị Trương Thị O vắng mặt nên không thống nhất được hướng giải quyết của vụ án. Tại phiên tòa chị O vắng mặt lần thứ hai không có lý do, nguyên đơn anh Lê Văn H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn H và chị Trương Thị O kết hôn với nhau vào ngày 12/4/2005 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Cương Gián, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Lê Văn H: Chị Trương Thị O đã vắng mặt tại nơi cư trú từ năm 2016 đến nay không có tin tức gì và đã được Tòa án ra Quyết định tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật. Quá trình từ năm 2016 đến nay anh Lê Văn H đã có thời gian chờ đợi, áp dụng mọi biện pháp tìm kiếm chị O nhưng không có kết quả. Hiện anh H có nguyện vọng tha thiết đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho anh được ly hôn chị Trương Thị O. Như vậy có thể thấy tình cảm vợ chồng giữa anh Lê Văn H và chị Trương Thị O không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy đây là nguyện vọng chính đáng của anh H nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Lê Văn H và xử cho anh Lê Văn H được ly hôn chị Trương Thị O là phù hợp với khoản 2 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Lê Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Anh Lê Văn H là nguyên đơn trong vụ án hôn nhân và gia đình nên phải nộp án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về Điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 2 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh Lê Văn H được ly hôn với chị Trương Thị O.

3. Về án phí: Anh Lê Văn H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0011770 ngày 04/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Tiền án phí anh Lê Văn H đã nộp đủ.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ