- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho anh Trần Văn L được ly hôn với chị Hoàng Thị Kim D.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2021/HNGĐ-ST Ngày: 15/6/2021 V/v “ly hôn, nuôi con ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Giang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Phẩm
2. Ông Nguyễn Ngọc Thắng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Thu Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Tôn Thị Thanh Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 24/2021/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2021 về việc “ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2021/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Trần Văn L - sinh năm 1987
Địa chỉ: Khu 2, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Chị Hoàng Thị Kim D - sinh năm 1988
Địa chỉ: Khu 2, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Hiện đang ở Nhật Bản.
Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị H – sinh năm 1965
Địa chỉ: Tổ 7, khu L, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
(Anh L có đơn xin xét xử vắng mặt, chị D vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 24/02/2021 và Bản tự khai ngày 02/4/2021, nguyên đơn anh Trần Văn L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Hoàng Thị Kim D tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 26/10/2007 tại Uỷ ban nhân dân phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn. Khoảng năm 2010-2011, chị D đi lao động tại Nga đến năm 2014 về nước được thời gian ngắn lại sang Đài Loan lao động khoảng 3 năm, về nước một thời gian rồi lại đi Nhật Bản lao động. Từ đó, vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn, không còn quan tâm chia sẻ cuộc sống với nhau, không còn liên lạc với nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Hoàng Thị Kim D.
Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung là cháu Trần Trung K, sinh ngày 20/10/2009. Cháu K ở với anh từ khi mẹ cháu đi nước ngoài cho đến nay. Khi ly hôn anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng Cháu K và không yêu cầu chị D phải cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu Trần Trung K có nguyện vọng được ở với bố.
Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Anh L xác định hai vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hiện nay anh và chị D không còn liên lạc với nhau nên anh không biết địa chỉ cụ thể của chị D ở nước ngoài, không thể cung cấp cho Tòa án được. Anh đề nghị Tòa án tiến hành xác minh địa chỉ của chị D qua bố đẻ và mẹ đẻ của chị D là ông Hoàng Văn T và bà Nguyễn Thị H, đều có địa chỉ tại: khu L, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn chị Hoàng Thị Kim D hiện đang ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ cụ thể. Chị D vẫn liên lạc qua điện thoại với bố, mẹ đẻ nên Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bà Nguyễn Thị H là mẹ đẻ của chị D. Đồng thời, tiến hành lấy lời khai của bà Hà về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung, công nợ chung và công sức đóng góp giữa chị D và anh L.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 02/4/2021 và Bản tự khai ngày 16/4/2021, bà Nguyễn Thị H trình bày:
Bà là mẹ đẻ của chị Hoàng Thị Kim D. Chị D hiện đang làm việc tại Nhật Bản, vẫn liên lạc qua điện thoại với bà. Khi bà hỏi địa chỉ ở Nhật Bản của chị D thì chị D có nói nhưng bà không nhớ nên không thể cung cấp cho Tòa án được. Bà đã nhận các văn bản tố tụng của Tòa án thay cho chị D và thông báo nội dung cho chị D biết. Chị D không gửi văn bản gì về Việt Nam để trình bày quan điểm mà chỉ nói với bà qua điện thoại. Quan điểm của chị D là nay vợ chồng không còn tình cảm nữa, chị đồng ý ly hôn với anh Trần Văn L. Về con chung, hai vợ chồng anh chị có 01 con chung là cháu Trần Trung K, sinh ngày 20/10/2009. Chị D đề nghị Tòa án xem xét giao cho chị trực tiếp nuôi dưỡng cháu, trong thời gian chị ở nước ngoài thì bà là bà ngoại sẽ chăm sóc cho cháu đến khi chị D về nước. Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp, chị D không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, việc thu thập chứng cứ của Tòa án là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đại diện VKSND tỉnh Phú Thọ đề nghị Tòa án xử cho anh Trần Văn L được ly hôn với chị Phạm Thị Kim D. Về con chung: Giao cháu Trần Trung K, sinh ngày 20/10/2009 cho cho anhy Trần Văn L trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Phạm Thị Kim D không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Trần Văn L. Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Do anh Trần Văn L không yêu cầu nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Nguyên đơn anh Trần Văn L nộp đơn xin ly hôn chị Hoàng Thị Kim D. Trong đó, anh L cung cấp thông tin chị D có hộ khẩu thường trú tại khu 2, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, hiện đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản. Theo Công văn số 8379/QLXNC-P5 ngày 12/4/2021 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh – Bộ Công an về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh: Hoàng Thị Kim D, sinh ngày 12/8/1988, đã xuất nhập cảnh 08 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 26/12/2015, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Theo quy định tại khoản 3 Điều 35, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Anh Trần Văn L có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải đề ngày 16/4/2021 nên Tòa án không tiến hành hòa giải theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của pháp luật.
Chị Hoàng Thị Kim D hiện đang sống và làm việc tại Nhật Bản nhưng anh Trần Văn L không cung cấp được địa chỉ cụ thể của chị D tại Nhật Bản cho Tòa án. Tòa án đã tiến hành xác minh địa chỉ của chị D qua mẹ đẻ chị D là bà Nguyễn Thị H. Bà Hà xác nhận chị D đang ở Nhật Bản và vẫn liên lạc với bà qua điện thoại nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể nên không cung cấp cho Tòa án được. Bà cũng đã thông báo cho chị D biết Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đang tiến hành giải quyết việc ly hôn giữa canh L và chị chị D theo đơn khởi kiện của anh L. Căn cứ Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ nên Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt chị D.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh Trần Văn L và chị Hoàng Thị Kim D là hôn nhân hợp pháp. Do vợ chồng sống xa nhau, không có sự quan tâm chia sẻ trong cuộc sống gia đình nên tình cảm vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Căn cứ lời khai của anh L và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì hiện nay, anh L và chị D không còn quan tâm, liên lạc với nhau. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa anh L và chị D đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Bên cạnh đó, theo lời khai của bà Hà là mẹ đẻ chị D thì chị D có quan điểm là đồng ý ly hôn với anh L. nên việc anh L yêu cầu được ly hôn chị D là có căn cứ được chấp nhận.
Về con chung: Anh L xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Trần Trung K, sinh ngày 20/10/2009. Ly hôn anh L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng Cháu K và không đề nghị chị D phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Cháu K có nguyện vọng được ở với bố. Xét thấy chị Hoàng Thị Kim D hiện đang ở nước ngoài không thể trực tiếp chăm sóc cho Cháu K. Từ khi chị D đi nước ngoài, anh L là người nuôi dưỡng Cháu K nên để đảm bảo cho Cháu K có điều kiện phát triển tốt nhất, cần giao cháu Trần Trung K cho anh Trần Văn L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Trần Văn L không yêu cầu chị Hoàng Thị Kim D phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Do anh Trần Văn L không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Về án phí: Anh Trần Văn L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự; Điều 51; 56; 81; 82; 83 và Điều 123 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; Điều 37; khoản 4 Điều 147, Điều 179, Điều 227, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Cho anh Trần Văn L được ly hôn với chị Hoàng Thị Kim D.
2. Về con chung: Giao cháu Trần Trung K, sinh ngày 20/10/2009 cho anh Trần Văn L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi Cháu K thành niên avf có khả năng lao động. Chị Hoàng Thị Kim D không phải cấp dưỡng nuôi con cùng anh Trần Văn L. Chị Hoàng Thị Kim D có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Tòa án không giải quyết.
4. Về án phí: Anh Trần Văn L phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh L đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu số 0004410 ngày 24/3/2021 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7a,7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - Cục THADS tỉnh Phú Thọ; - UBND phường V; - Lưu VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hà Giang |