- Tranh chấp gì? án hành chính — "Bản án hành chính Chu Văn Dũng + UBND quận Hải An"
- Tòa quyết gì? Bác yêu cầu khởi kiện của ông Chu Văn D đề nghị tuyên hủy một phần Quyết định số 2900/QĐ-UBND ngày 07/9/2016 của UBND quận HA, về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ về đất, tài sản trên diện tích đất thu hồi thực hiện Dự án phát triển giao thông đô thị thành phố Hải Phòn…
- Căn cứ chính? Điều 3 Luật Tố tụng hành chính; Điều 32 Luật Tố tụng hành chính; Nghị định số 44/2014/NĐ-CP Quy định về giá đất
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2021/HC-ST Ngày: 15-6-2021 V/v yêu cầu hủy quyết định hành chính trong lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trịnh Khắc Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Hồng Thúy
Ông Trần Đăng Khoa
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hằng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Mai Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 92/2020/TLST-HC ngày 19 tháng 10 năm 2020 về khởi kiện “Yêu cầu hủy quyết định hành chính trong lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2021/QĐXXST-HC ngày 19 tháng 4 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2021/QĐST-HC ngày 18 tháng 5 năm 2021, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Chu Văn D, nơi cư trú, sinh năm 1981 : Số 60 phố CL, tổ 11, phường ĐH, quận HA, thành phố Hải Phòng; có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Nguyễn Ngọc C, nơi cư trú: Thôn C, xã N, huyện A, thành phố Hải Phòng (Giấy ủy quyền ngày 07 tháng 9 năm 2019); có mặt.
- Người bị kiện: UBND quận HA, thành phố Hải Phòng; địa chỉ: Đường L, quận HA, thành phố Hải Phòng;
Người đại diện theo pháp luật là Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận HA, thành phố Hải Phòng.
Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch UBND quận HA, thành phố Hải Phòng: Ông Nguyễn Văn T, là Phó Chủ tịch UBND quận HA, thành phố Hải Phòng (được Chủ tịch UBND quận HA, thành phố Hải Phòng ủy quyền theo văn bản số 5256/QĐ-CT ngày 31/12/2020); vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Lương Thị Thu H, sinh năm 1986, nơi cư trú: Số 60 phố CL, tổ 11, phường ĐH, quận HA, thành phố Hải Phòng; vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện là ông Chu Văn D và người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện trình bày:
Diện tích đất 60m2 được xác định tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ cấp giấy H02124 do UBND quận HA cấp ngày 10/11/2009 mang tên chủ sử dụng đất là ông Chu Văn D và bà Lương Thị Thu H. Để thực hiện dự án phát triển giao thông đô thị thành phố Hải Phòng (hạng mục xây dựng tuyến đường Bắc Sơn – Nam Hải), quá trình thu hồi đất các cấp chính quyền của quận HA, thành phố Hải Phòng đã triển khai và thực hiện như sau:
Ngày 07/9/2016, UBND quận HA, thành phố Hải Phòng ban hành Quyết định số 2914/QĐ-UBND về việc thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng dự án phát triển đô thị thành phố Hải Phòng (hạng mục xây dựng tuyến đường Bắc Sơn – Nam Hải) tại phường ĐH quận HA.
Ngày 07/9/2016, UBND quận HA, thành phố Hải Phòng ban hành Quyết định số 2900/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ về đất, tài sản trên diện tích đất thu hồi thực hiện dự án phát triển giao thông đô thị thành phố Hải Phòng (hạng mục xây dựng tuyến đường Bắc Sơn – Nam Hải) tại phường ĐH, quận HA.
Ngày 23/7/2019, UBND quận HA ban hành Công văn số 1485/UBND-TTPTQĐ trả lời kiến nghị của các hộ dân lô 13 kiến nghị về công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng dự án phát triển giao thông đô thị thành phố Hải Phòng (tuyến đường Bắc Sơn – Nam Hải) tại phường ĐH, quận HA, thành phố Hải Phòng.
Tại Quyết định số 2900/QĐ-UBND ngày 07/9/2016, người khởi kiện đồng thuận với căn cứ thu hồi đất, trình tự, thủ tục thu hồi đất, đơn giá bồi thường vật kiến trúc trên đất, nhưng không đồng ý việc áp giá đất bồi thường về đất là 6.600.00đ/1m2. Người khởi kiện cho rằng mức bồi thường về đất là quá thấp không đúng với khung quy định của pháp luật bởi các lý do sau:
Theo quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 114 Luật Đất đai năm 2013 khi Nhà nước thu hồi đất, tiền bồi thường được tính theo giá đất cụ thể.
Giá đất phổ biến trên thị trường tại khoản 3 Điều 3 Nghị định số 44/2014 ngày 15/4/2014 của Chính phủ “là mức giá xuất hiện với tần suất nhiều nhất trong các giao dịch đã chuyển nhượng trên thị trường, trúng đấu giá quyền sử dụng đất, giá đất xác định từ chi phí, thu nhập của các thửa đất có cùng mục đích sử dụng tại một khu vực và trong một khoảng thời gian nhất định”.
Thời điểm thu hồi đất, giá giao dịch trên thị trường các thửa đất là khoảng 25.000.000 đồng/1m2. Ngoài ra, vị trí đất bị thu hồi là tuyến hai của đường Lê Hồng Phong, không phải đường Ngô Gia Tự như phương án bồi thường.
Một số hộ dân ở gần đó không chấp nhận bàn giao mặt bằng, bị cưỡng chế thì lại được bồi thường về đất với mức giá cao 21.600.000 đ/m2.
Từ những lập luận nêu trên, người khởi kiện đề nghị Tòa án quyết định hủy bỏ một phần Quyết định số 2900/QĐ-UBND ngày 07/9/2016 của UBND quận HA về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ về đất, tài sản trên đất, khi thu hồi, để áp dụng giá đất cao hơn.
* Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của UBND quận HA trình bày:
Về trình tự, thủ tục và thẩm quyền thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, thể hiện tại hai quyết định số 2900/QĐUB ngày 07/9/2016 và Quyết định số 2914/QĐ-UBND ngày 07/9/2016, UBND quận HA đã thực hiện đúng theo quy định.
Trong quá trình thực hiện các hộ dân đã nhận tiền, bàn giao mặt bằng và đã được bố trí tái định cư đầy đủ, đối với gia đình ông Chu Văn D đã nhận tiền vào ngày 26/10/2016.
Đối với diện tích đất thu hồi của ông Chu Văn D, UBND quận HA căn cứ vào Quyết định số 1106/QĐ-UBND ngày 22/6/2016 của UBND thành phố Hải Phòng về việc giá đất cụ thể theo đó giá đất khu vực trên được quy định là 6.600.000 đồng/1m2.
Tại Quyết định số 1559/QĐ-UBND ngày 19/6/2017 của UBND thành phố Hải Phòng về việc sửa đổi Điều 1 Quyết định số 2400/QĐ-UBND ngày 19/10/2016 của UBND thành phố Hải Phòng về nội dung phê duyệt giá đất cụ thể để bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án phát triển giao thông đô thị, trong đó phê duyệt giá đất cụ thể để bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án phát triển giao thông đô thị thành phố Hải Phòng (hạng mục xây dựng tuyến đường Bắc Sơn – Nam Hải) tại phường Thành Tô, quận HA, thành phố Hải Phòng.
Đối với việc người khởi kiện cho rằng một số hộ dân khác có đất bị thu hồi gần đó chây ỳ không chấp nhận chuyển đi, sau đó lại được duyệt bồi thường giá cao hơn (21.600.000đ/m2) thì UBND quận có ý kiến như sau: Đất của các hộ dân Lô 13 thuộc “Khu tái định cư Lô 13 Dự án Ngã 5 – Sân bay Cát Bi”, vị trí 1 bám mặt đường rộng 15m, nối ra đường Lê Hồng Phong. Căn cứ Quyết định số 1106/QĐ-UBND ngày 22/6/2016 của UBND thành phố Hải Phòng, mức giá đền bù về đất là 6.600.000đồng/1m2; còn đất của các hộ dân được bồi thường mức giá 21.600.000đồng/1m2 có vị trí bám mặt đường đường Lê Hồng Phong, thuộc nút giao thông (ngã tư) với đường Ngô Gia Tự.
Như vậy, việc UBND quận HA UBND quận HA, thành phố Hải Phòng ban hành Quyết định số 2900/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ về đất, tài sản trên diện tích đất thu hồi thực hiện dự án phát triển giao thông đô thị thành phố Hải Phòng (hạng mục xây dựng tuyến đường Bắc Sơn – Nam Hải) tại phường Đông Hải, quận HA là đúng quy định pháp luật.
Từ những lý do trên, UBND quận HA đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng bác yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Lương Thị Thu H có ý kiến thống nhất với quan điểm của người khởi kiện.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng có quan điểm:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính. Người khởi kiện đã chấp hành đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính. Người bị kiện chưa chấp hành đầy đủ các qui định của Luật tố tụng hành chính do nhiều lần vắng mặt khi được triệu tập.
Về nội dung:
+ Các quyết định hành chính do UBND quận HA ban hành là đúng thẩm quyền và trình tự, thủ tục quy định tại Điều 66, Điều 69 Luật đất đai 2013.
+ UBND quận HA đã căn cứ quyết định 1106/QĐ-UBND ngày 22/6/2016 về việc phê duyệt giá đất của UBND thành phố Hải Phòng về giá đất cụ thể để thực hiện dự án thu hồi đất tại phường ĐH, quận HA, Hải Phòng để tính tiền bồi thường về đất cho hộ ông Chu Văn D là phù hợp qui định của pháp luật. Người khởi kiện đã nhận tiền, bàn giao mặt bằng, nhận đất tái định cư; không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu tăng tiền bồi thường về đất cho các hộ dân.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính để bác yêu cầu của người khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại phiên tòa, các đương sự không bổ sung thêm chứng cứ, tài liệu nào mới.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được Tòa án thu thập có trong hồ sơ vụ án, tiếp tục được thẩm tra công khai tại phiên tòa, đồng thời căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa và các bên đương sự về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử sơ thẩm đánh giá và nhận định về vụ án như sau:
- Về thủ tục tố tụng, thẩm quyền thụ lý, giải quyết, quyền khởi kiện, đối tượng khởi kiện và thời hiệu khởi kiện vụ án:
Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch UBND quận HA ông Nguyễn Văn Tuấn – Phó chủ tịch UBND quận HA, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lương Thị Thu H đều vắng mặt. Ông Nguyễn Văn Tuấn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà Lương Thị Thu H vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào Điều 158, Điều 168 Luật Tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về thẩm quyền giải quyết, quyền khởi kiện và đối tượng khởi kiện: Người khởi kiện ông Chu Văn D cho rằng Quyết định số 2900/QĐ-UBND ngày 07/9/2016 của UBND quận HA về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ về đất, tài sản trên đất, khi thu hồi 60m2 đất đứng tên người khởi kiện, tại thửa đất số 28/13, thuộc khu tái định cư Lô 13, đường Lê Hồng Phong quy định mức giá bồi thường về đất là 6.600.000 đồng/1m2 là quá thấp so với mặt bằng chung và quy định Luật đất đai. Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính thì yêu cầu hủy một phần Quyết định về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ về đất, tài sản trên đất của UBND quận HA thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng. Quyết định số 2900/QĐ-UBND ngày 07/9/2016 của UBND quận HA ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện được Luật đất đai bảo vệ nên căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 3 và khoản 1 Điều 115 Luật Tố tụng hành chính, do đó ông Chu Văn D có quyền khởi kiện và Quyết định này là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính.
Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 19/6/2019, người khởi kiện cùng một số hộ dân tại Khu tái định cư Lô 13, phường ĐH có đơn khiếu nại gửi UBND quận HA đề nghị tăng giá bồi thường về đất khi thu hồi đất. Ngày 23/7/2019, UBND quận HA ban hành Công văn số 1485/UBND - TTPTQD về việc trả lời (kiến nghị) các hộ dân, nội dung công văn đã căn cứ vào các qui định của pháp luật để kết luận “Kiến nghị của các hộ được áp dụng giá đất cụ thể 21.600.000 đồng/m2 …là không có căn cứ giải quyết…”. Như vậy, Công văn số 1485/UBND –TTPTQD có chứa đựng nội dung giải quyết khiếu nại, ảnh hưởng tới quyền lợi của người khởi kiện. Đến ngày 22/7/2020, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng nhận được đơn khởi kiện của người khởi kiện và tiến hành thụ lý giải quyết vụ án hành chính, là còn trong thời hiệu, đúng thẩm quyền, theo qui định tại khoản 4 Điều 32 và điểm a khoản 3 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
- Về nội dung khởi kiện: Xét yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện đề nghị hủy một phần hủy một phần Quyết định số 2900/QĐ-UBND ngày 07/9/2016 của UBND quận HA về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ về đất, tài sản trên đất.
Về nguồn gốc đất: Tài liệu chứng chứng thu thập được thể hiện: Gia đình ông Chu Văn D là chủ sử dụng thửa đất số 28/13, diện tích 60m2, tại Khu tái định cư Lô 13, đường Lê Hồng Phong, quận HA, thành phố Hải Phòng , theo Giấy CNQSD đất do UBND quận HA cấp ngày 10/11/2009 đứng tên ông Chu Văn D và bà Lương Thị Thu H. Ngày 07/9/2016, UBND quận HA ban hành Quyết định số 2914/QĐ-UBND về việc thu hồi để thực hiện thực hiện Dự án phát triển giao thông đô thị thành phố Hải Phòng (hạng mục xây dựng tuyến đường Bắc Sơn – Nam Hải) tại phường ĐH, quận HA để thu hồi 60m2 đất nói trên Quyết định số 2900/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ về đất, tài sản trên đất. Ngày 26/10/2016 gia đình ông Dũng đã nhận tiền bồi thường hỗ trợ là 447.798.193 đ (trong đó tiền bồi thường về đất là 396.000.000đ, tiền bồi thường về vật kiến trúc là 41.808.193đ; hoa màu là 9.990.000đ và các khoản hỗ trợ khác là 0đ) và đã chuyển về nơi tái định cư gần đó. Sau đó, người khởi kiện cùng các hộ dân khác nhiều lần kiến nghị, khiếu nại đòi tăng giá đất, nhưng không được chấp nhận. Lời khai các đương sự phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Theo qui định tại khoản 2 Điều 66 Luật Đất đai, UBND cấp huyện có thẩm quyền ban hành Quyết định thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân. Do đó, UBND quận HA ban hành Quyết định thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất của người khởi kiện là đúng qui định của pháp luật. Về trình tự thủ tục ban hành Thông báo thu hồi đất, kiểm kê tài sản, thực hiện lấy ý kiến và niêm yết công khai tại địa phương, ban hành các Quyết định thu hồi đất và Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, phương án bồi thường, hỗ trợ bổ sung, đều đúng theo qui định tại Điều 66 và Điều 69 Luật Đất đai 2013; người khởi kiện cũng không có ý kiến phản đối hoặc khiếu nại về các thủ tục trên. Do đó, UBND quận HA tiến hành thu hồi đất là đúng qui định của pháp luật về thẩm quyền và trình tự, thủ tục.
Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định được thửa đất của người khởi kiện bị thu hồi có vị trí tại “Khu tái định cư Lô 13 bám mặt đường rộng 15 m, thuộc dự án Ngã 5- Sân bay Cát Bi”, thuộc địa bàn phường ĐH. Theo Quyết định số 1106/QĐ-UBND ngày 22/6/2016 của UBND TP. Hải Phòng về việc phê duyệt giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất thực hiện dự án phát triển giao thông đô thị Hải Phòng tại phường ĐH, quận HA qui định: “... 5. Đường rộng từ 9-22m, thuộc dự án Ngã 5- Sân bay Cát Bi và đường có mặt cắt tương tự nối ra đường Lê Hồng Phong: Vị trí 1, mức giá đất 6.600.000đ/m2...”. Xét Quyết định số 1106/QĐ-UBND được ban hành phù hợp với qui định tại khoản 3 Điều 114 Luật đất đai; Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014của Chính phủ và Quyết định 2970 QĐ-UBND ngày 25/12/2014 của UBND TP. Hải Phòng về việc ban hành về bảng giá đất thành phố Hải Phòng 5 năm (2015-2019). Do đó, Quyết định số 2900/QĐ-UBND ngày 07/9/2016 của UBND quận HA (căn cứ Quyết định số 1106/QĐ-UBND) để phê duyệt giá đất cụ thể 6.600.000đ/m2 là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 114 Luật đất đai năm 2013 và Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014của Chính phủ.
Người khởi kiện cho rằng UBND quận HA tính giá đất bồi thường 6.6.000đ/m2 là không phù hợp với qui định của pháp luật, thấp hơn nhiều giá đất giao dịch trên thị trường (thời điểm đó là trên 20.000.000đ/m2), nhưng không đưa ra được căn cứ chứng minh. Xét đất của gia đình người khởi kiện bám đường nội bộ rộng 15 m của “Khu tái định cư dự án Ngã 5-Sân bay Cát Bi”, không thuộc tuyến 2 đường Lê Hồng Phong, nên yêu cầu đòi áp giá 8.640.000/m2 là không có căn cứ. Đối với đất của các hộ dân được áp giá 21.600.000đ/m2 là đất góc Ngã tư đường Lê Hồng Phong (đường rộng 60 m) với đường Ngô Gia Tự. Mặt khác, người khởi kiện cũng được nhận đất tái định cư gần đó với diện tích tương tự (gần như tái định cư tại chỗ), bám mặt đường rộng 30m, với giá 6.000.000đ/m2 (thấp hơn giá đất đã được đền bù 600.000 đồng) là đã bảo đảm quyền lợi.
Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện về việc tuyên hủy một phần (giá đất) của các Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ về đất, tài sản trên đất khi thu hồi đất của người khởi kiện tại “Khu tái định cư Lô 13, phường ĐH”.
Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên, ông Chu Văn D phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 30; Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 194 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
- Căn cứ các điều 66, 67, 69 và 75 Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 44/2014/NĐ-CP và Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014của Chính phủ;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Chu Văn D đề nghị tuyên hủy một phần Quyết định số 2900/QĐ-UBND ngày 07/9/2016 của UBND quận HA, về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ về đất, tài sản trên diện tích đất thu hồi thực hiện Dự án phát triển giao thông đô thị thành phố Hải Phòng (hạng mục xây dựng tuyến đường Bắc Sơn –Nam Hải), khi thu hồi 60m2 đất đứng tên bà Lương Thị Thu H và ông Chu Văn D, tại thửa đất số 28/13, thuộc “ Khu tái định cư Lô 13, phường ĐH”, quận HA, TP. Hải Phòng.
2. Về án phí sơ thẩm: Ông Chu Văn D phải nộp 300.000đ án phí hành chính sơ thẩm, số tiền này ông Dũng đã nộp đủ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0019064 ngày 16/10/2020 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
3.Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Thúy Trần Đăng Khoa
Trịnh Khắc Thịnh
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Hải Phòng; - Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng; - UBND thành phố Hải Phòng; - Đương sự; - Lưu: HCTP; hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi 16 giờ phút, ngày 01 tháng 3 năm 2021 Tại: Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đặng Minh Hạnh Các Hội thẩm nhân dân Ông Nguyễn Huy Vĩnh ngày 10 tháng 3 năm 2020 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất” giữa các đương sự: Tam Đa, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng;. dân huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng; Đến, sinh năm 1970, ông Vũ Văn Đây, sinh năm 1972, ông Vũ Văn Chiến, sinh năm 1974, và bà Vũ Thị Thêm, sinh năm 1975; cùng địa chỉ: Tổ dân phố Phương Khê, xã Đồng Hòa, Kiến An, Hải Phòng, tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU - Về điều luật áp dụng: Luật Tố tụng hành chính năm 2015; 43/2014/NĐ-CP và Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014; Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Kết quả biểu quyết: Đồng ý 3/3 Yêu cầu hủy các Quyết định số 1020/QĐ-UBND ngày 05/8/2019 về việc thu hồi đất của ông Vũ Văn Cấc và Quyết định số 1034/QĐ-UBND ngày 05/8/2019 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ đối với hộ ông Vũ Văn Cấc của UBND quận Kiến An, thành phố Hải Phòng. Kết quả biểu quyết: Đồng ý 3/3 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; bà Chầm là người già nên được miễn án phí hành chính sơ thẩm. Kết quả biểu quyết: Đồng ý 3/3 cùng nghe và ký tên dưới đây. Việc nghị án kết thúc vào hồi 17 giờ 00 phút, cùng ngày. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Khắc Thịnh THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Khắc Thịnh CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Bà Nguyễn Thị Hồng Thúy Tiến hành nghị án đối với vụ án hành chính thụ lý số 11/2020/TLST-HC - Người khởi kiện: Ông Lương Hữu Chuyên; địa chỉ: Thôn Hoa Đàm, xã - Người bị kiện: Uỷ ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo và Chủ tịch Uỷ ban nhân - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Vũ Văn Cấc, ông Vũ Văn Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh Căn cứ khoản 1 Điều 30; Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 194 Căn cứ các điều 66, 67, 69, 71 và 75 Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban - Về nội dung: Bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Chầm về việc: - Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 348 Luật Tố tụng hành chính và Biên bản thảo luận đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Minh Hạnh |