vanban.org

Bản án 33/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K đối với ông Trần Đ và bà Võ Hồng T. Buộc ông Trần Đ và bà Võ Hồng T có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng TMCP K tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 16/7/2021) là 36.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Về án phí: Buộc ông Trần Đ và bà Võ Hồng T phải có nghĩa vụ liên đới nộp án phí dân sự… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Nguyên đơn Ngân hàng K và bị đơn bà Võ Hồng T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K đối với ông Trần Đ và bà Võ Hồng T. Buộc ông Trần Đ và bà Võ Hồng T có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng TMCP K tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 16/7/2021) là 36.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỒNG DÂN
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2021/DS-ST
Ngày 16 tháng 7 năm 2021
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN NHÂN HUYỆN HỒNG DÂN – TỈNH BẠC LIÊU

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kiệt

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lại Thiện Phong

Ông Ngô Hồng Xuân

Thư ký phiên tòa: Bà Thái Kim Phƣơng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân tham gia phiên tòa: Ông Dƣơng Minh Kha – Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 7 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 191/2020/TLST-DS, ngày 24 tháng 11 năm 2020 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2021/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần (TMCP) K

Địa chỉ: Số 40-42-44 P, phường V, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang

Người đại diện theo pháp luật: Bà Trần Tuấn A - Chức vụ: Tổng giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Hùng H - Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP K - chi nhánh Bạc Liêu - phòng giao dịch Phước Long (Theo văn bản ủy quyền số 1395/NHKL ngày 29/6/2020 của Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP K).

Người được ủy quyền lại: Ông Võ Tấn Đ, sinh năm 1987 - Chức vụ: Phó giám đốc Ngân hàng TMCP K - chi nhánh Bạc Liêu - phòng giao dịch Phước Long (Theo văn bản ủy quyền số 434/GUQ-PGDPL ngày 30/9/2020) (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp N, thị trấn P, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

Đồng bị đơn: Bà Võ Hồng T, sinh năm 1991 và ông Trần Đ, sinh năm 1991 (Vắng mặt không lý do)

Cùng địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án Ngân hàng TMCP K, người đại diện là ông Võ Tấn Đạt trình bày: Vào ngày 09/5/2019, ông Trần Đ và bà Võ Hồng T có ký kết hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A789307/HĐTD-CC với Ngân hàng TMCP K – chi nhánh Bạc Liêu – phòng giao dịch Phước Long để vay số tiền là 15.000.000 đồng, thời hạn vay 180 ngày. Ngày giải ngân tiền vay là ngày 09/5/2019. Mục đích sử dụng vốn vay là mua bán tạp hóa. Lãi suất trong hạn là 16%/năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn. Hình thức thanh toán: gốc, lãi trả hàng ngày. Vay theo hình thức tín chấp.

Tiếp đó, vào ngày 30/5/2019 ông Trần Đ và bà Võ Hồng T có ký kết hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A789307/HĐTD-CC với Ngân hàng TMCP K – chi nhánh Bạc Liêu – phòng giao dịch Phước Long để vay số tiền là 15.000.000 đồng, thời hạn vay 180 ngày. Ngày giải ngân tiền vay là ngày 30/5/2019. Mục đích sử dụng vốn vay là mua bán. Lãi suất trong hạn là 16%/năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn. Hình thức thanh toán: gốc, lãi trả hàng ngày. Vay theo hình thức tín chấp.

Quá trình thực hiện hợp đồng ông Trần Đ và bà Võ Hồng T chỉ thanh toán được cho Ngân hàng TMCP K tổng số tiền là 5.099.964 đồng nên đã vi phạm hợp đồng tín dụng đã ký. Nay Ngân hàng TMCP K yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân xem xét, giải quyết: Buộc ông VTrần Đ và bà Võ Hồng T phải có trách nhiệm liên đới thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP K tổng số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 30/9/2020 đối với hai hợp đồng tín dụng nêu trên là 32.036.700đồng (trong đó: Vốn gốc là 25.250.000 đồng, lãi trong hạn là 1.860.337 đồng, lãi quá hạn là 4.926.363 đồng) và tiền lãi theo thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đã ký từ ngày 01/10/2020 cho đến khi thanh toán dứt nợ.

Đối với đồng bị đơn bà Võ Hồng T trình bày: Vợ chồng bà T và ông Đảm có ký kết 02 hợp đồng số A789307/HĐTD - CC ngày 09/5/2019 và số A789307A/HĐTD - CC ngày 30/5/2019 với Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long – chi nhánh Bạc Liêu – phòng giao dịch Phước Long vay với tổng số tiền ở 02 hợp đồng là 30.000.000 đồng. Từ khi vay đến nay vợ chồng ông Đảm, bà T chỉ trả tiền cho Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long số tiền 5.099.964 đồng. Nay Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long – chi nhánh Bạc Liêu – phòng giao dịch Phước Long yêu cầu vợ chồng bà trả số tiền tạm tính đến ngày 30/9/2020 đối với hai hợp đồng tín dụng nêu trên là 32.036.700đồng (trong đó: Vốn gốc là 25.250.000 đồng, lãi trong hạn là 1.860.337 đồng, lãi quá hạn là 4.926.363 đồng) và tiền lãi theo thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đã ký từ ngày 01/10/2020 cho đến khi thanh toán dứt nợ thì vợ chồng bà đồng ý trả. Tuy nhiên, do hoàn cảnh khó khăn nên vợ chồng bà xin được trả dần với mức 500.000 đồng/ 01 tháng cho đến khi dứt nợ.

Đối với đồng bị đơn ông Trần Đ: Không cung cấp lời khai cho Tòa án, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục theo đúng quy định của pháp luật.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến phiên tòa xét xử hôm nay nguyên đơn, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng đồng bị đơn chưa chấp hành đúng quy định tại điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K. Buộc ông Trần Đ và bà Võ Hồng T có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng TMCP K tổng số tiền gốc và lãi của 02 hợp đồng tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 16/7/2021) là 36.517.011 đồng (trong đó: Vốn gốc là 25.250.000 đồng, lãi trong hạn là 1.860.337 đồng, lãi quá hạn là 9.406.674 đồng) và tiền lãi phát sinh theo thoả thuận trong các hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán dứt nợ. Ngoài ra ông Đảm và bà T còn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP K khởi kiện yêu cầu đồng bị đơn ông Trần Đ và bà Võ Hồng T phải trả nợ vay cho Ngân hàng. Đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng đồng thời đồng bị đơn có nơi cư trú tại ấp N, xã N, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân.

Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Võ Tấn Đạt có đơn yêu cầu vắng mặt tại phiên tòa; Đồng bị đơn ông Trần Đ và bà Võ Hồng T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và đồng bị đơn theo điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự là phù hợp.

Xét yêu cầu của Ngân hàng TMCP K yêu cầu ông Trần Đ và bà Võ Hồng T trả nợ vay cho Ngân hàng, Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở để xác định ông Trần Đ và bà Võ Hồng T có ký với Ngân hàng TMCP K 02 hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố, cụ thể: Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A789307/HĐTD – CC ngày 09/5/2019; Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A789307A/HĐTD – CC ngày 30/5/2019 để vay tổng số tiền 30.000.000 đồng, Thời hạn vay: 180 ngày; Lãi suất trong hạn 16%/năm; Lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn. Quá trình vay vốn ông Đảm, bà T có thanh toán cho Ngân hàng được tổng số tiền gốc và lãi của 02 hợp đồng tín dụng là 5.099.964 đồng nên đã vi phạm hợp đồng tín dụng đã ký.

Quá trình giải quyết vụ án tuy ông Đảm không cung cấp lời khai cho Tòa án nhưng bà Võ Thanh Hồng là vợ ông Đảm xác định: Vợ chồng bà có ký kết 02 hợp đồng số A789307/HĐTD - CC ngày 09/5/2019 và số A789307A/HĐTD - CC ngày 30/5/2019 với Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long vay với tổng số tiền ở 02 hợp đồng là 30.000.000 đồng. Từ khi vay đến nay vợ chồng ông Đảm, bà T chỉ trả tiền cho Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long số tiền 5.099.964 đồng. Nay Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long yêu cầu vợ chồng bà trả số tiền tạm tính đến ngày 30/9/2020 đối với hai hợp đồng tín dụng nêu trên là 32.036.700đồng (trong đó: Vốn gốc là 25.250.000 đồng, lãi trong hạn là 1.860.337 đồng, lãi quá hạn là 4.926.363 đồng) và tiền lãi theo thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đã ký từ ngày 01/10/2020 cho đến khi thanh toán dứt nợ thì vợ chồng bà đồng ý trả. Tuy nhiên, do hoàn cảnh khó khăn nên vợ chồng bà xin được trả dần với mức 500.000 đồng/ 01 tháng cho đến khi dứt nợ. Xét thấy: Đây là hợp đồng vay có kỳ hạn, có lãi và các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng các cam kết đã ký kết nhưng ông Đảm, bà T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng. Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông Đảm, bà T thanh toán toàn bộ số tiền nợ là phù hợp với thỏa thuận của hai bên đã ký trong hợp đồng tín dụng và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng. Do đó, có cơ sở buộc ông Trần Đ và bà Võ Hồng T có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Ngân hàng TMCP K tổng số tiền nợ của 02 hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 16/7/2021) là 36.517.011 đồng (trong đó: Vốn gốc là 25.250.000 đồng, lãi trong hạn là 1.860.337 đồng, lãi quá hạn là 9.406.674 đồng).

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.

Về án phí: Buộc ông Trần Đ và bà Võ Hồng T phải có nghĩa vụ liên đới nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền là 1.825.850 đồng.

Vì các lẽ nêu trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

- Căn cứ Điều 463, 466 Bộ luật dân sự 2015;

- Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ vào các Điều 2; 6; 7, 7a; 9 và Điều 30 Luật thi hành án dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K đối với ông Trần Đ và bà Võ Hồng T. Buộc ông Trần Đ và bà Võ Hồng T có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng TMCP K tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 16/7/2021) là 36.517.011 đồng (trong đó: Vốn gốc là 25.250.000 đồng, lãi trong hạn là 1.860.337 đồng, lãi quá hạn là 9.406.674 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng.

2. Về án phí: Buộc ông Trần Đ và bà Võ Hồng T phải có nghĩa vụ liên đới nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền là 1.825.850 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân.

Ngân hàng TMCP K đã nộp tạm ứng án phí số tiền là 800.000 đồng theo biên lai thu số 0003376 ngày 24/11/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân được hoàn lại toàn bộ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ