vanban.org

Bản án 33/2020/HSST — Hình sự

TAND TX. Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước Tuyên án 19/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Thái Nghĩa - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự Quá trình điều tra; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI
TỈNH BÌNH PHƢỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2020/HSST
Ngày: 19-3-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông V n Phú Vinh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Thạch Nhị; ông Đào Xuân Nhi

- Thư ký phi n t a: Ông Hoàng Hữu Bình – Th

Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phi n t a: bà Chẩu Thị Ngọc– Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 3 năm 2020, tại Hội tr ờng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ l số: 196/2019/HSST ngày 31 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Thái A, Tên gọi hác: hông, sinh năm 1990; Tại: Bình Ph ớc; Hộ hẩu th ờng trú cũng nh chổ ở: ấp 1, xã NB, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Ph ớc; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Hữu B, sinh năm 1947 và bà Bùi Thị C, sinh năm 1952; Bị cáo ch a có vợ con; Tiền án: Ngày 02 tháng 11 năm 2017, bị Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 (Bản án số 92/HSST/2017) Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 20 tháng 5 năm 2018; Về nhân thân: Ngày 05 tháng 12 năm 2013 bị Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành xử phạt 06 tháng tù (tại Bản án số 124/HSST/2013) về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự. Ngày 29 tháng 5 năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành xử phạt 09 tháng tù (tại Bản án số 58/HSST/2015) về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự; Tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22 tháng 10 năm 2019 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa

Nh ng ngư i hại:

1. Anh Nguyễn V n D, sinh năm 1972 (vắng mặt) HKTT: Ấp 3, xã TT, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Ph ớc

2. Anh Nguyễn V n Đ, sinh năm 1983 (vắng mặt) HKTT: thôn 3, xã NT, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Ph ớc

Nh ng ngư i có quyền lợi và nghĩa vụ li n quan:

1. Chị Nguyễn Thị E, sinh năm 1972 (vắng mặt) KHTT: hu phố PC, ph ờng TP, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Ph ớc

2. Bà Bùi Thị F, sinh năm 1952 (vắng mặt) HKTT: ấp 1, xã NB, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Ph ớc

3. Anh Lê Thanh G, sinh năm 1975 (vắng mặt) HKTT: Khu phố TB, ph ờng TB, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Ph ớc

NỘI DUNG VỤ ÁN:

B cáo Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 23 giờ 00 ngày 21 tháng 10 năm 2019, Đặng Thái A chơi game tại tiệm “TRC” thuộc hu phố PC, ph ờng TP, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Ph ớc Đến hoảng 02 giờ 00 ngày 22 tháng 10 năm 2019, A đi vào hu vực hoa nhi của Bệnh viện đa hoa tỉnh Bình Ph ớc, thấy 01 cái điện thoại di động OPPO F3 màu hồng của anh Nguyễn Văn Đ đang cắm sạc trên cửa sổ nên A đến lấy trộm bỏ vào túi quần Sau đó, A tiếp tục vào hoa Lão của Bệnh viện rồi đi lên lầu 1 thấy phòng bệnh nhân đối diện cầu thang đang mở cửa, ng ời trong phòng đã ngủ hết, A đi vào lấy trộm 01 điện thoại di động Samsung J3 của anh Nguyễn Văn D đang cắm sạc ở đầu gi ờng bỏ vào túi quần của mình rồi đi ra ghế đá của bệnh viện tắt nguồn điện thoại rồi nằm ngủ đến sáng Đến hoảng 14h00 cùng ngày, A đón xe ôm đi đến tiệm điện thoại “Tùng Phụng 1” thuộc đ ờng Điểu Ông, ph ờng TB, thành phố Đồng Xoài, để bán 02 cái điện thoại trên cho anh Lê Thanh G đ ợc số tiền 1 200 000 đồng Sau đó, A đi xe ôm về tiệm game “TRC” chơi điện tử, A trả tiền xe ôm hết 50 000 đồng, trả tiền nợ bà Nguyễn Thị E chủ quán “TRC” số tiền 900 000 đồng, mua card điện thoại và ăn uống hết 150 000 đồng còn lại 100 000 đồng A cất giấu trong túi quần Đến hoảng 16 giờ 00 cùng ngày A đến Công an thành phố Đồng Xoài đầu thú.

Tại ết luận định giá tài sản số 157 ngày 28 tháng 10 năm 2019 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự ết luận: Tổng trị giá tài sản bị A chiếm đoạt là 3.100.000 đồng.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, Đặng Thái A thành hẩn hai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội nh ng gây thiệt hại hông lớn; Gia đình đã bồi th ờng cho ng ời liên quan số tiền 1 200 000 đồng; Sau hi phạm tội đã đến cơ quan Công an đầu thú

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc tr ờng hợp tái phạm

Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật tài liệu và xử l vật chứng: Số tiền 900 000 đồng; 01 điện thoại di động Samsung J3 Pro; 01 điện thoại di động OPPO F3 màu hồng; 01 điện thoại OPPO loại 1201 màu trắng và số tiền 100 000 đồng

Ngày 29 tháng 11 năm 2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đồng Xoài đã quyết định xử l vật chứng trả lại cho anh Nguyễn Văn D 01 điện thoại di động Samsung J3 Pro; Trả anh Nguyễn Văn Đ 01 điện thoại di động OPPO F3 màu hồng.

Ngày 29 tháng 10 năm 2019, Bà Bùi Thị F là mẹ ruột của bị cáo Đặng Thái A đã bồi th ờng cho ng ời liên quan Lê Thanh G số tiền 1 200 000 đồng

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản nên hông yêu cầu gì.

Tại bản Cáo trạng số: 06/CT-VKS ngày 30 tháng 12 năm 2019 của Viện iểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đã truy tố bị cáo Đặng Thái A về tội “trộm cắp tài sản” theo hoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện iểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo nh bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng hoản 1 Điều 173; điểm b,h,s hoản 1, 2 Điều 51; Điềm h hoản 1 Điều 52; Điều 38; 50 của Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Đặng Thái A từ 09-12 tháng tù.

Trong quá trình điều tra cũng nh tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng nh cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện iểm sát, bị cáo hông tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tr n cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phi n t a, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện iểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo hông có iến và hiếu nại gì Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp

[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã hai nhận toàn bộ nội dung phạm tội đúng nh nội dung bản cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 30 tháng 12 năm 2019 của Viện iểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đã truy tố các bị cáo

[3] Xét lời hai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thấy phù hợp với lời hai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời hai của ng ời bị hại, ng ời có quyền lợi và A vụ liên quan, biên bản tiếp nhận ng ời ra đầu thú; ết luận của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự cùng các chứng cứ, tài liệu hác có trong hồ sơ vụ án đã đ ợc thẩm tra công hai tại phiên tòa thấy phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở ết luận: Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân, ngày 22 tháng 10 năm 2019, bị cáo Đặng Thái A đã lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động Samsung J3 Pro của anh Nguyễn Văn D, 01 điện thoại di động OPPO F3 màu hồng của anh Nguyễn Văn Đ tại Bệnh viện đa hoa tỉnh Bình Ph ớc có tổng trị giá là 3.100.000 đồng. Do vậy, hành vi của bị cáo A đã phạm tội “trộm cắp tài sản” Tội phạm và hình phạt đ ợc quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.

[4] Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố trực tiếp, bản thân bị cáo là ng ời có đủ năng lực hành vi dân sự, biết việc lén lút chiếm đoạt tài sản của ng ời hác là hành vi vi phạm pháp luật Nh ng vì động cơ t lợi nhằm mục đích để thỏa mãn nhu cầu tiêu xài cá nhân nên hi phát hiện sơ hở trong việc quản l tài sản của ng ời bị hại, bị cáo đã lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động Samsung J3 Pro của anh Nguyễn Văn D, 01 điện thoại di động OPPO F3 màu hồng của anh Nguyễn Văn Đ. Xét tính chất, mức độ do hành vi và hậu quả mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân đ ợc pháp luật hình sự bảo vệ, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bên cạnh đó bị cáo là ng ời có nhân thân xấu, cụ thể là: Ngày 05 tháng 12 năm 2013 bị Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành xử phạt 06 tháng tù (tại Bản án số 124/HSST/2013) về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự Ngày 29 tháng 5 năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành xử phạt 09 tháng tù (tại Bản án số 58/HSST/2015) về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự Đến Ngày 02 tháng 11 năm 2017, bị Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 (Bản án số 92/HSST/2017). Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 20 tháng 5 năm 2018 nh ng hông lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục đi vào con đ ờng phạm tội Cho nên, lần phạm tội này bị cáo phải chịu thêm tình tiết định hung tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” Do vậy, Viện iểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài truy tố bị cáo về tội “trộm cắp tài sản” theo hoản 1 Điều 173 và điểm h hoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật

[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành hẩn hai báo, có thái độ ăn năn hối cải; Phạm tội nh ng gây thiệt hại hông lớn; Tài sản chiếm đoạt đã đ ợc thu hồi đã trả lại cho bị hại; sau hi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan công an để đầu thú; Đã vận động gia đình hoàn trả số tiền cho ng ời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh G. Do vậy, đ ợc Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt hi l ợng hình

[6] Về xử lý vật chứng:

[6.1] Ngày 29 tháng 11 năm 2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đồng Xoài đã quyết định xử l vật chứng trả lại cho anh Nguyễn Văn D 01 điện thoại di động Samsung J3 Pro; Trả anh Nguyễn Văn Đ 01 điện thoại di động OPPO F3 màu hồng nên HĐXX hông xem xét xử l

[6 2] Đối với số tiền 900 000 đồng bị cáo trả tiền nợ bà Nguyễn Thị E chủ quán “TRC”, đây là số tiền do bị cáo phạm tội mà có, đồng thời bà E cũng hông biết đây là số tiền bị cáo có đ ợc trong quá trình phạm tội và đã nộp lại trong quá trình điều tra Vì vậy, đây là số tiền do thu lợi bất chính mà có nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà n ớc

[6 3] Đối với số tiển 100 000 đồng thu giữ đ ợc trong quá trình điều tra, bị cáo xác định đây là số tiền còn lại trong việc thực hiện hành vi phạm tội Đây là số tiền do thu lợi bất chính mà có nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà n ớc

[6 4] Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Oppo 1201 là tài sản của bị cáo hông liên quan gì đến vụ án Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo hông đồng nhận lại chiếc điện thoại nêu trên nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà n ớc

[7] Về trách nhiệm dân sự:

[7.1] Do anh Nguyễn Văn D đã nhận lại 01 điện thoại di động Samsung J3 Pro; anh Nguyễn Văn Đ đã nhận lại 01 điện thoại di động OPPO F3 màu hồng và không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.

[7 2] Đối với số tiền mà bà Bùi Thị F là mẹ ruột của bị cáo Đặng Thái A đã bỏ ra trả lại cho ng ời liên quan anh Lê Thanh G 1 200 000 đồng Tại phiên tòa bà F vắng mặt, nh ng trong quá trình điều tra bà F hông yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền này cho bả nên HĐXX hông xem xét

[7 3] Đối với số tiền mà bị cáo nợ tiền chơi game tại quán “TRC” của bà Nguyễn Thị E với số tiền là 900 000 đồng Bị cáo đã dùng tiền có đ ợc trong quá trình trộm cắp tài sản để trả Tuy nhiên, quá trình điều tra, bà E đã nộp lại Tại phiên tòa bà E vắng mặt, nh ng trong quá trình điều tra bà E có yêu cầu bị cáo phải trả số tiền nêu trên cho bà, tại phiên tòa đ ợc bị cáo đồng Xét thấy, đây là sự tự nguyện của bị cáo nên đ ợc HĐXX chấp nhận

[8] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh :

Tuyên bố bị cáo Đặng Thái A (tên gọi hác: không) phạm tội “trộm cắp tài sản”

2. Về hình phạt :

Áp dụng hoản 1 Điều 173; điểm b,h,s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm h hoản 1 Điều 52; Điều 38;50 của Bộ luật hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Đặng Thái A 09 (chín) tháng tù Thời hạn chấp hành hình phạt tù đ ợc tính từ ngày 22 tháng 10 năm 2019

3. Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Điều 583 của Bộ luật dân sự năm 2015

Tuyên buộc bị cáo Đặng Thái A phải trả cho bà Nguyễn Thị E số tiền 900 000 đồng

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về vật chứng của vụ án: không xem xét

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà n ớc số tiền 900 000 đồng và 100 000 đồng tổng cộng là 1 000 000 đồng thu giữ trong quá trình điều tra; 01 điện thoại di động hiệu Oppo 1201.

( Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0001755; Quyển số 0036; Ký hiệu D47/2017 ngày 25 tháng 12 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài ).

5. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản l và sử dụng án phí, lệ phí Toà án

Tuyên buộc bị cáo phải nộp 200 000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm .

6. Về quyền kháng cáo: bị cáo có mặt tại phiên tòa đ ợc quyền háng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án Ng ời bị hại, ng ời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa đ ợc quyền háng cáo bản án trong hạn 15 ngày ể từ ngày nhận đ ợc bản án hoặc niêm yết tại chính quyền địa ph ơng nơi c trú

Cỡ chữ