vanban.org

Bản án 33/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Tuyên án 09/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Xuân Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Vũ Xuân Th 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/12/2019. Tổng hợp với hình phạt 01 (một) năm tù tại Bản án số 122/2019/HS-S… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Xuân Th Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Xuân Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ GIÁO
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2020/HS-ST
Ngày 09/6/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Quế.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Phương Dung;

Bà Nguyễn Thị Kim Phượng.

- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thu Thảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Kim Thị Giàu - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2020/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2020/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Xuân Th, sinh năm 1985 tại B. Nơi cư trú: Ấp 2, xã T, thành phố Đ, tỉnh B; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Xuân Th và bà Bùi Thị Ng; tiền án: Ngày 08/10/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước xử phạt 01 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự tại Bản án số: 122/2019/HS-ST đang chờ quyết định chấp hành án; tiền sự: Không.

Nhân thân:

Ngày 01/6/2001, bị Công an thị xã Đồng Xoài (nay là thành phố Đồng Xoài), tỉnh Bình Phước xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 50.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. (Đã chấp hành xong)

Ngày 08/5/2003, bị Tòa án nhân dân thị xã Đồng Xoài (nay là thành phố Đồng Xoài), tỉnh Bình phước xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. (Chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Phước)

Ngày 02/4/2013, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Bản án số: 46/2013/HS-PT. (Chấp hành xong án phạt tù tại Trại giam An Phước).

Bị cáo Vũ Xuân Th đang bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/12/2019 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Trần Minh Ú, sinh năm 1967. Nơi cư trú: Ấp 5, xã A, huyện P, tỉnh BD. (Có đơn xin vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Tạ Quang Th, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Ấp 9, xã T, huyện Đ, tỉnh BP. (Vắng mặt)

- Người làm chứng:

1. Ông Phạm Bá H; (Vắng mặt)

2. Ông Võ Minh T; (Vắng mặt)

3. Ông Trần Thảo L; (Vắng mặt)

4. Ông Văn Thanh T. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 01/12/2019, Vũ Xuân Th điều khiển xe mô tô biển số 93M1-115.05 đến nhà Phạm Bá H với mục đích rủ H đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài, H đồng ý. H chuẩn bị 01 (một) cây kéo, 01 (một) cái bao loại 25kg, 01 (một) cái đèn pin. Sau đó, Th điều khiển xe mô tô chở H từ nhà tại xã T, thành phố Đ, tỉnh BP đến vườn cam của ông Trần Minh Ú ở ấp 5, xã A, huyện P, tỉnh BD để trộm cam. Tại đây, Th và H dựng xe mô tô ở vườn cao su cách vườn cam khoảng 30m rồi đi bộ vào vườn cam của ông Ú, H dùng kéo mang theo cắt cam, Th nhặt được một con dao thái lan trong vườn sử dụng cắt cam. Cả hai đang cắt cam thì bị ông Trần Văn Ú phát hiện truy hô và gọi điện thoại thông báo cho Văn Thanh T, Trần Thảo L, Võ Minh T truy đuổi bắt được Th và H, thu giữ: 02 (hai) bao cam sành, loại cam da màu xanh có trọng lượng 54kg; 01 (một) con dao thái lan màu vàng dài khoảng 20cm; 01 (một) cây kéo bằng kim loại dài 22cm; 01 (một) đèn pin hiệu XML-T6 màu đen; 01 (một) cây tầm vông dài 85cm, đường kính 03 cm; 01 (một) điện thoại di động hiệu FPT màu đen đỏ, số IMEL1: 980038004032987, IMEL2: 980038004084483.

Bản kết luận định giá tài sản ngày 05/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phú Giáo xác định: 54 kg cam sành loại cam da màu xanh có giá được Hội đồng thống nhất xác định là 20.000 đồng/kg x 54 kg = 1.080.000 đồng (Một triệu không trăm tám mươi nghìn đồng).

Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo tạm giữ:

- 02 (hai) bao cam sành, loại cam da màu xanh có trọng lượng 54kg;

- 01 (một) con dao thái lan màu vàng dài khoảng 20cm; 01 (một) cây kéo bằng kim loại dài 22cm; 01 (một) đèn pin hiệu XML-T6 màu đen;

- 01 (một) cây tầm vông dài 85cm, đường kính 03 cm, Văn Thanh T dùng để khống chế bắt giữ bị cáo Vũ Xuân Th, Phạm Bá H;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu FPT màu đen đỏ, số IMEL1: 980038004032987, IMEL2: 980038004084483;

- 01 (một) xe môtô biển số 93M1-115.05 do ông Tạ Quang Th đứng tên sở hữu. Năm 2018, ông Th đã bán xe mô tô trên cho Vũ Xuân Th nhưng chưa làm thủ tục sang tên.

Cáo trạng số 13/CT-VKSPG ngày 12 tháng 02 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Vũ Xuân Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Vũ Xuân Th từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 01 (một) năm tù tại Bản án số 122/2019/HS-ST ngày 08/10/2019 của Toà án nhân dân thành phố Đ, tỉnh BP, buộc bị cáo Vũ Xuân Th phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.

Về trách nhiệm dân sự: 02 (hai) bao cam sành, loại cam da màu xanh có trọng lượng 54kg. Ngày 01/12/2019, Công an xã An Thái lập biên bản trả lại tài sản cho ông Trần Minh Ú. Ông Ú nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.

Về vật chứng của vụ án:

- 01 (một) con dao thái lan màu vàng dài khoảng 20cm; 01 (một) cây kéo bằng kim loại dài 22cm; 01 (một) đèn pin hiệu XML-T6 màu đen. Đây là công cụ dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy;

- 01 (một) xe môtô biển số 93M1-115.05 do ông Tạ Quang Th đứng tên sở hữu. Năm 2018, ông Th đã bán xe mô tô trên cho Vũ Xuân Th nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Đây là phương tiện bị cáo Th dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên rất hối hận, ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Vũ Xuân Th đã khai nhận: Bị cáo đã bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước xử phạt 01 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 122/2019/HS-ST ngày 08/10/2019 đang chờ quyết định chấp hành án. Ngày 01/12/2019, bị cáo Vũ Xuân Th cùng Phạm Bá H lấy trộm 54kg cam có giá trị là 1.080.000 đồng (Một triệu không trăm tám mươi nghìn đồng) của ông Trần Minh Ú thì bị phát hiện bắt quả tang. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người thực hành và lỗi cố ý trực tiếp. Về nhận thức, bị cáo biết việc lén lút trộm cắp tài sản thuộc sở hữu của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đã đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo đã chiếm đoạt tài sản của bị hại có giá trị 1.080.000 đồng (Một triệu không trăm tám mươi nghìn đồng). Tuy nhiên, ngày 08/10/2019, bị cáo Vũ Xuân Th bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước xử phạt 01 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự theo Bản án số 122/2019/HS-ST. Do đó, hành vi của bị cáo Vũ Xuân Th đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Như vậy, Cáo trạng số 13/CT-VKSPG ngày 12 tháng 02 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Vũ Xuân Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tội phạm do bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vũ Xuân Th không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước mà an tâm cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

Xét mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Vũ Xuân Th là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: 02 (hai) bao cam sành, loại cam da màu xanh có trọng lượng 54kg. Ngày 01/12/2019, Công an xã An Thái lập biên bản trả lại tài sản cho ông Trần Minh Ú. Ông Ú nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng của vụ án:

- 01 (một) con dao thái lan màu vàng dài khoảng 20cm, 01 cây kéo bằng kim loại dài 22cm, 01 (một) đèn pin hiệu XML-T6 màu đen. Đây là công cụ dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, tiêu hủy;

- 01 (một) xe môtô biển số 93M1-115.05 do ông Tạ Quang Th đứng tên sở hữu. Năm 2018, ông Th đã bán xe mô tô trên cho Vũ Xuân Th nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Đây là phương tiện bị cáo Th dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Xuân Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Vũ Xuân Th 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/12/2019. Tổng hợp với hình phạt 01 (một) năm tù tại Bản án số 122/2019/HS-ST ngày 08 tháng 10 năm 2019 của Toà án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước buộc bị cáo Vũ Xuân Th phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/12/2019. Được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2019 đến ngày 21/8/2019 theo Bản án số 122/2019/HS-ST ngày 08 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

3. Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) con dao bằng kim loại dài khoảng 20cm (loại dao thái lan, cán màu vàng); 01 cái kéo bằng kim loại dài khoảng 22cm; 01 (một) đèn pin hiệu XML-T6 màu đen (đã qua sử dụng).

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) xe môtô biển số 93M1 - 115.05

(Số

khung:

RMCWCH40M51*000149,

số

máy: VFMZSI52FMH*00019650*, xe không bửng, phần đầu xe hư hỏng, không kiểm tra bên trong máy).

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/02/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương).

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc: Bị cáo Vũ Xuân Th phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ