vanban.org

Bản án 33/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 13/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Mai Tiến C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Mai Tiến C 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 03/9/2019. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) vam phá khóa bằng kim loại; 01 (một) tay công hình chữ T bằng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Tiến C phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Mai Tiến C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẠ LONG
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2020/HS-ST
Ngày 13 - 01 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Thanh và ông Nguyễn Đắc Nam.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đ ng Quang Sơn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 01 năm 2020 tại Hội trường xét xử - Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2019/TLST-HS ngày 01/12/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2019/QĐXXST-HS ngày 23/12/2019 đối với bị cáo:

Mai Tiến C - Tên gọi khác: Không; sinh ngày 07/10/1984 tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: Tổ 55, khu 4, phường B, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn G, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1961; v , con: Không; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Ngày 30/5/2003, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” .

- Ngày 07/01/2004, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 07 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng cộng 07 năm 06 tháng tù. Tổng h p hình phạt của bản án ngày 30/5/2003 là 08 năm 03 tháng tù.

- Ngày 22/11/2010, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Ngày 29/4/2014, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/9/2019, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh. Có m t tại phiên tòa.

Bị hại:

- Anh Đỗ Thanh T, sinh năm 1982; nơi cư trú: Tổ 4, khu 3, phường H1, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Vắng m t, có đơn đề nghị xét xử vắng m t.

- Anh Phạm Văn H, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ 7, khu 2, phường H2, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Vắng m t, có đơn đề nghị xét xử vắng m t.

- Anh Vũ Trọng N, sinh năm 1991; nơi cư trú: Khu 4, phường Y, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Vắng m t, có đơn đề nghị xét xử vắng m t.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn V; sinh năm 1963; nơi cư trú: Thôn Đ, phường M, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Vắng m t, có đơn đề nghị xét xử vắng m t.

Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Bà Phạm Thị X, sinh năm 1964; Địa chỉ: Tổ 15, khu 4, phường H3, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Vắng m t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau: Trong khoảng thời gian từ ngày 14/7/2019 đến ngày 02/9/2019, trên địa bàn phường B, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, Mai Tiến C có hành vi l i dụng sơ hở, dùng vam phá khóa ổ điện trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu vàng đen, biển kiểm soát (BKS) 14H8-9517 trị giá 4.600.000 đồng của anh Phạm Văn H; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu trắng đen, BKS 14X1-015.91 trị giá 6.900.000 đồng của anh Vũ Trọng N; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen trắng, BKS 14B1-399.16 trị giá 15.640.000 đồng của anh Đỗ Thanh T. Tổng trị giá tài sản mà C đã chiếm đoạt là 27.140.000 đồng; Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn trắng đen, gắn BKS 20N1-4737; 01 BKS 14B1-399.16; 01 BKS 29F5-3880; 01 BKS 14X1-015.91; 02 gương chiếu hậu của xe mô tô; 01 vam phá khóa bằng kim loại; 01 tay công hình chữ T bằng kim loại; 01 thanh dọc kim loại.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 179/KLĐG, số 180/KLĐG ngày 04/9/2019 và số 220/KLĐG ngày 24/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Hạ Long kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu trắng đen, BKS 14B1-399.16, tại thời điểm bị xâm hại có trị giá là: 15.640.000 đồng; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu trắng đen, BKS 14X1-015.19, tại thời điểm bị xâm hại có giá trị là 6.900.000 đồng; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu vàng đen, BKS 14H8-9517, tại thời điểm bị xâm hại có giá trị là 4.600.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra (CQĐT) và tại phiên tòa, bị cáo Mai Tiến C khai nhận: Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 02/9/2019, bị cáo đi bộ từ nhà thuộc tổ 55, khu 4, phường B, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đến khu vực bán hải sản ch H4, mục đích xem có ai sơ hở để trộm cắp xe mô tô bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Tại đây bị cáo phát hiện chiếc xe mô tô Yamaha Sirius, BKS 14B1-399.16 của anh Đỗ Thanh T đỗ tại khu vực bán hải sản không có người trông coi nên dùng vam phá khóa ổ điện, điều khiển về nhà lắp BKS 20N1-4737 vào xe mô tô trên, mở cốp xe lấy 02 gương chiếu hậu để ra ngoài, sau đó cất giấu trong nhà chờ mang đi tiêu thụ. Đến khoảng 04 giờ ngày 03/9/2019, Công an thành phố Hạ Long tiến hành kiểm tra hành chính nơi ở của bị cáo, tiến hành bắt giữ người trong trường h p khẩn cấp và thu giữ tại nơi ở của bị cáo thu giữ toàn bộ vật chứng. Ngoài ra, trong khoảng thời gian từ tháng 7/2019 đến tháng 8/2019, bị cáo đã thực hiện 4 vụ trộm cắp bằng thủ đoạn sử dụng vam phá khóa, cụ thể: Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 14/7/2019, tại bến cá thuộc khu 4, phường B, thành phố Hạ Long, bị cáo trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu vàng đen, BKS 14H8-9517 của anh Phạm Văn H, sau đó mang bán cho một người đàn ông không quen biết tại ch L, thành phố Hạ Long đư c 2.000.000 đồng. Cũng trong tháng 7/2019, không nhớ ngày, tại bến xe B2, bị cáo đã trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha màu xanh, rồi bán cho một người đàn ông không quen biết tại ch L đư c 700.000 đồng; Ngày 24/8/2019, tại khu vực tổ 54, khu 4, phường B, thành phố Hạ Long, bị cáo trộm cắp chiếc xe Wave RSX, màu đen, BKS 20N1-4737 và mang đến ch L bán cho một người không quen biết đư c 1.500.000 đồng; Khoảng 20 giờ 30 ngày 27/8/2019, cũng tại bến cá, khu 4, phường B, thành phố Hạ Long, bị cáo trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu trắng đen, BKS 14X1-015.91 của anh Vũ Trọng N, mang về nhà gắn BKS 14H8-9517. Đến ngày 28/8/2019 bị cáo mang cầm cố chiếc xe trên cho ông Nguyễn Văn V đư c 800.000 đồng. Bị cáo thấy Viện kiểm sát truy tố, Tòa án xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, không oan.

Những người bị hại anh Đỗ Thanh T, anh Phạm Văn H và anh Vũ Trọng N tuy vắng m t tại phiên tòa nhưng tại CQĐT có lời khai thể hiện: Ngày 02/9/2019, anh Đỗ Thanh T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS 14B1-399.16 đến dừng đỗ tại khu vực bán hải sản của ch H4 rồi đi vào trong ch khi đi ra anh không thấy chiếc xe của anh nữa; Ngày 14/7/2019, anh Phạm Văn H bị mất chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS 14H8-9517 tại khu vực bến cá thuộc khu 4, phường B, thành phố Hạ Long; Ngày 27/8/2019, anh Vũ Trọng N bị mất chiếc xe mô tô Yamaha Sirius, BKS 14X1-015.91. Các anh Đỗ Thanh T, Vũ Trọng N đã nhận lại xe nên không yêu cầu bị cáo bồi thường. Anh Phạm Văn H yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại cho anh theo giá trị xe mà Hội đồng định giá tài sản đã kết luận là 4.600.000 đồng.

Người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn V vắng m t tại phiên tòa nhưng tại CQĐT có lời khai thể hiện: Ngày 28/8/2019, có một nam thanh niên đ t vấn đề muốn bán chiếc xe mô tô Yamaha Sirius nhưng ông không mua. Người thanh niên đó nói đó là xe của anh ta và giấy tờ xe để ở nhà vì đang cần tiền nên muốn bán. Vì tin tưởng người thanh niên đó nên ông V đã nhận cầm cố xe với giá 800.000 đồng, người thanh niên đó còn hẹn sẽ quay lại chuộc xe nhưng sau đó không quay lại nữa. Ngày 17/10/2019, ông V mới biết chiếc xe liên quan đến hành vi phạm tội nên tự nguyện giao nộp xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS 14H8-9517 cho CQĐT. Ông V yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho ông số tiền 800.000 đồng.

Tại Cáo trạng số: 342/CT-VKSHL ngày 29/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long truy tố Mai Tiến C tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên trình bày luận tội, đưa ra các chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo tội “Trộm cắp tài sản” như nội dung bản cáo trạng, đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Mai Tiến C từ 24 (Hai mươi bốn) đến 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều Điều 584; Điều 585 và Điều 589 của Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Phạm Văn H 4.600.000 đồng; bồi thường cho ông Nguyễn Văn V 800.000 đồng.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc vam phá khóa bằng kim loại; 01 tay công hình chữ T bằng kim loại; 01 thanh dọc kim loại rỗng một đầu hình lục giác.

Đối với hai chiếc BKS 20N1-4737 và 29F5-3880, CQĐT đã quyết định trưng cầu giám định và thông báo tìm bị hại nhưng chưa có kết quả nên tách ra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

Đối với ông Nguyễn Văn V có hành vi nhận cầm cố xe mô tô của Mai Tiến C nhưng ông V không biết xe mô tô là tài sản do Cường trộm cắp mà có nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Tại phần tranh luận, bị cáo không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét xử phạt mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hạ Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều h p pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Mai Tiến C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, khẳng định việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Lời khai nhận tội của bị cáo phù h p với lời khai của các bị hại, của người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan, của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ thu thập đư c có trong hồ sơ vụ án đã đư c thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa như: Biên bản kiểm tra hành chính; Biên bản khám xét; Đơn trình báo; Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ, bản ảnh hiện trường; Biên bản nhận dạng; Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật; Bản kết luận định giá tài sản số 179/KLĐG, số 180/KLĐG ngày 04/9/2019 và số 220/KLĐG ngày 24/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Hạ Long; Bản luận tội Kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa.

Với các chứng cứ nêu trên đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 14/7/2019 đến ngày 02/9/2019, trên địa bàn phường B, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, Mai Tiến C có hành vi l i dụng sơ hở, dùng vam phá khóa ổ điện trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu vàng đen, BKS 14H8-9517, trị giá 4.600.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm nghìn đồng) của anh Phạm Văn H; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu trắng đen, BKS 14X1-015.91, trị giá 6.900.000 đồng (Sáu triệu chín trăm nghìn đồng) của anh Vũ Trọng N; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen trắng, BKS 14B1-399.16, trị giá 15.640.000 đồng (Mười lăm triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) của anh Đỗ Thanh T. Tổng trị giá tài sản mà C đã chiếm đoạt của những người bị hại là 27.140.000 đồng (Hai mươi bày triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng ý thức chấp hành pháp luật kém, l i dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu để lén lút trộm cắp tài sản rồi bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo thỏa mãn dấu hiệu và đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” mà tội danh và hình phạt đư c quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự, có mức hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm ho c phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Nội dung luận tội của Kiểm sát viên phù h p với nội dung Cáo trạng đã truy tố. Đề nghị của Kiểm sát viên đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.

Xét nhân thân, tình tiết giảm nhẹ và tăng n ng trách nhiệm hình sự (TNHS) thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản và tội mua bán trái phép chất ma túy. Điều đó chứng tỏ bị cáo đã nhiều lần đư c tuyên truyền, giáo dục pháp luật nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục vi phạm pháp luật. Do đó lần phạm tội này cần có mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật; Về tình tiết tăng n ng: Trong khoảng thời gian từ tháng 7/2019 đến tháng 9/2019, bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng n ng TNHS quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo đư c hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo thấy đư c chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật mà cải tạo, giáo dục thành người lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội.

Căn cứ vào quy định của BLHS, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ và tăng n ng TNHS, HĐXX buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định, nhằm giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới; đồng thời góp phần giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét thấy bị cáo hiện không còn việc làm, thu nhập nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đối với 01 vam phá khóa bằng kim loại; 01 tay công hình chữ T bằng kim loại; 01 thanh dọc kim loại rỗng một đầu hình lục giác là công cụ, phương tiện phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Các anh Đỗ Thanh T, Vũ Trọng N đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên không đề cập giải quyết. Anh Phạm Văn H yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS 14H8-9517, theo giá của Hội đồng định giá tài sản nên buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Phạm Văn H 4.600.000 đồng. Ông Nguyễn Văn V nhận cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS 14X1-015.91 với giá 800.000 đồng nhưng không biết tài sản do bị cáo trộm cắp mà có. Ông V yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền trên cho ông nên buộc bị cáo bồi thường cho ông V 800.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Mai Tiến C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Mai Tiến C 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 03/9/2019.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) vam phá khóa bằng kim loại; 01 (một) tay công hình chữ T bằng kim loại; 01 (một) thanh dọc kim loại rỗng một đầu hình lục giác (Tình trạng vật chứng đư c thi hành theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 79/BB-THA, ngày 03/01/2020 giữa Công an thành phố Hạ Long và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long).

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều Điều 584; Điều 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Phạm Văn H, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ 7, khu 2, phường H2, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh số tiền 4.600.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm nghìn đồng); bồi thường cho ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1963; nơi cư trú: Thôn Đ, phường M, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh số tiền 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, anh Phạm Văn H, ông Nguyễn Văn V có đơn yêu cầu thi hành án, mà bị cáo chậm trả tiền thì bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự, trừ trường h p pháp luật có quy định khác.

Trường h p bản án, quyết định đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Mai Tiến C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự.

Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đư c bản án ho c từ ngày bản án đư c niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ