- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:33 /2020/ HS-ST Ngày 15-5-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châm Thị Vân Khánh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Minh và ông Cáp Trọng Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Giáp - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thị Bích Thảo - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 05 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Bình,
tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2020/TLST- HS, ngày 13 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 03 năm 2020, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1997 tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc
Giang;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn T, xã H, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang;
nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị N; Có vợ là: Chu Thị H, sinh năm 1998 chưa có con chung; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2019 đến ngày 13/01/2020.
Hiện bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 22/12/2019, tổ công tác của Công an huyện Phú Bình
phối hợp với Công an xã K đang làm nhiệm vụ tại khu vực phố C, xã K, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Văn Đ đang tàng trữ 01 bao tải dứa bọc bên ngoài thùng catton, bên trong thùng catton có chứa 18 hộp chữ nhật, trong đó có 04 hộp hình chữ nhật, bên ngoài bọc giấy màu tím, có ghi chữ nước ngoài, kích thước 14,5cm x 14,2cm x 15cm, bên trong mỗi hộp
1
hình chữ nhật có 36 ống hình trụ tròn và 14 hộp hình chữ nhật bên ngoài bọc giấy màu vàng ghi chữ nước ngoài, kích thước 14,3 cm x 15 cm x 14,3 cm, bên trong mỗi hộp hình chữ nhật có 36 ống hình trụ tròn. Đ khai nhận là pháo, đồng thời thu giữ của bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu trắng vàng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn Đ và thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.
Tiến hành mở niêm phong và cân xác định khối lượng:
- 14 vật hình hộp chữ nhật, bên ngoài có bọc giấy màu vàng, có ghi chữ
nước ngoài, kích thước 14,3 cm x 15 cm x 14,3 cm, bên trong mỗi hộp hình chữ nhật có 36 ống hình trụ tròn, kích thước mỗi ống cao 14,9cm, đường kính 2,4cm có tổng khối lượng 18,2 kg;
- 04 vật hình hộp chữ nhật, bên ngoài có bọc giấy màu vàng, có ghi chữ
nước ngoài, kích thước 14,5 cm x 14,2 cm x 15 cm, bên trong mỗi hộp hình chữ nhật có 36 ống hình trụ tròn, kích thước mỗi ống cao 14,9cm, đường kính 2,4cm có tổng khối lượng 5,2 kg.
Tổng khối lượng pháo 23,4 kg.
Cơ quan điều tra đã lấy ngẫu nhiên 01 hình hộp chữ nhật trong 04 hình hộp
chữ nhật có kích thước 14,5 cm x 14,2 cm x 15 cm và 01 hình hộp chữ nhật trong 14 hình hộp chữ nhật có kích thước 14,3 cm x 15 cm x 14,3 cm có tổng khối lượng là 2,6kg làm mẫu gửi giám định niêm phong vào thùng catton ký hiệu A1.
Tại bản kết luận giám định số 79/KL-KTHS ngày 30/12/2019 của Phòng
kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận:
- 01 khối hộp hình chữ nhật có kích thước 14,5 cm x 14,2 cm x 15 cm , bên
ngoài được bọc bằng giấy màu tím, có in chữ nước ngoài, bên trong có chứa 36 ống hình trụ tròn, kích thước mỗi ống dài 15cm, đường kính 2,4cm được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, ký hiệu A1 là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).
- 01 khối hộp hình chữ nhật có kích thước 14,3 cm x 15 cm x 14,3 cm , bên
ngoài được bọc bằng giấy màu vàng, có in chữ nước ngoài, bên trong có chứa 36 ống hình trụ tròn, kích thước mỗi ống dài 15cm, đường kính 2,4cm được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, ký hiệu A1 là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn Đ khai nhận: Do có người thanh niên Đ
quen qua mạng xã hội nhờ Đ mua hộ pháo và Đ có nhu cầu mua về sử dụng trong dịp tết, nên khoảng 19 giờ ngày 22/12/2019 Đ đi một mình xuống khu vực cầu C thuộc xã H, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang để mua pháo của một người đàn ông mà trước đó Đ liên hệ qua mạng xã hội Face Book đặt mua 18 bệ pháo với giá 8.000.000đ, đến nơi hẹn Đ gặp người đàn ông kia nhận hàng và thanh toán xong, Đ nhờ người đàn ông đó đưa Đ và thùng pháo vừa mua được lên khu
2
vực cầu C, xã K, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên để đưa cho người thanh niên đã nhờ Đ mua hộ trước đó, trong lúc đang đứng đợi người thanh niên kia đến lấy hàng thì Đ bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang thu giữ vật chứng như trên.
Vật chứng của vụ án gồm: 16 hộp pháo có khối lượng 20,8kg còn lại sau
giám định và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng trắng cũ đã qua sử dụng của Đ hiê ̣n đang được lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình chờ xử lý.
Tại Bản cáo trạng số 29/CT-VKSPB, ngày 12/02/2020 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của BLHS.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận rõ hành vi phạm tội như lời
khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả. Bị cáo thừa nhận việc truy tố xét xử là đúng người, đúng tội, không oan.
Tại phiên tòa, trong phần luận tội Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện
Phú Bình giữ nguyên bản Cáo trạng số 29/CT-VKSPB, ngày 12/02/2020, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội "Tàng trữ hàng cấm":
- Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự; điểm i, s
khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Văn Đ từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách; miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo; Về vật chứng vụ án cần tịch thu tiêu hủy số pháo còn lại, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus của bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện
kiểm sát.
Trong lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nhận thấy
hành vi của mình là sai và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, Quyết
định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký, Kiểm sát viên tiến hành tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình
3
điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên
tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 20h15 phút ngày 22/12/2019, tại khu vực cầu Ca, thuộc phố Cầu Ca, xã Kha Sơn, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, bị cáo Nguyễn Văn Đ đã có hành vi tàng trữ 18 hộp hình chữ nhật, bên trong mỗi hộp hình chữ nhật có 36 ống hình trụ tròn, có tổng khối lượng là 23,4kg, qua giám định là pháo nổ, mục đích theo Đ khai là mua hộ một thanh niên không quen biết ở Tam Hợp, Hiệp Hòa, Bắc Giang và để bị cáo sử dụng vào dịp tết. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ hàng cấm" theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự. Bản Cáo trạng số 29/CT-VKSPB, ngày 12/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố Nguyễn Văn Đ về tội "Tàng trữ hàng cấm" theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ Luật hình sự là có căn cứ.
Nội dung điều luật như sau:
"1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường
hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) ...
c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;”
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là trái pháp luật và bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi với lỗi cố ý, làm mất trật tự an toàn xã hội, bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối
với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
4
Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ tội phạm do bị cáo thực
hiện, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo có nhân thân tốt, tuổi đời còn trẻ, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và lời đề nghị của bị cáo, cho bị cáo cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 191 của BLHS năm
2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền.Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thấy bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: 16 hộp pháo có khối lượng 20,8kg còn lại sau giám định
cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo xác định dùng để liên lạc với người bán pháo và người nhờ mua hộ pháo nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước..
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của
pháp luật.
Các vấn đề khác: Trong vụ án này theo Đ khai mua pháo của một người
đàn ông ở khu vực cầu C, thuộc xã H, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang và nam thanh niên nhờ Đ mua hộ pháo, Đ không biết tên, địa chỉ của những người này, do đó cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Bình không có căn cứ để mở rộng điều tra vụ án.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo
tại phiên tòa là phù hợp cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều
65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”
Xử phạt Nguyễn Văn Đ 01(Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời
gian thử thách 02(Hai) năm kể từ ngày tuyên án 15/5/2020.
Giao bị cáo Nguyễn Văn Đ cho UBND xã H, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc
Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
5
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ 02
lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố
tụng hình sự.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone
7 Plus màu hồng trắng số IC579C E3092A, máy cũ đã qua sử dụng.
-Tịch thu tiêu hủy 16 hộp pháo có khối lượng 20,8kg còn lại sau giám định
được đựng trong thùng catton ký hiệu A2.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an
huyện Phú Bình và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình ngày 26/02/2020).
3/Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí. Buộc bi ̣ cáo Nguyễn Văn Đ phải nô ̣p 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
6/Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - VKSND huyện Phú Bình; - Công an huyện Phú Bình; - THADS huyện Phú Bình; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. 6 THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ 7 8 9 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châm Thị Vân Khánh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châm Thị Vân Khánh |