- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hà Văn D - Nguyễn Thị Kiên G"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Hà Văn D đối với bị đơn chị Nguyễn Thị Kiên G về việc “Ly hôn”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2020/HNGĐ-ST Ngày: 29/6/2020 Về việc: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Hùng Dương.
2. Ông Nguyễn Văn Hiệp.
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quyết là Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải – Kiểm sát viên.
Vào ngày 29 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 93/2020/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2020/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2020/QĐST-DS ngày 22/6/2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Hà Văn D, sinh năm 1990; địa chỉ: khu phố 1, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ hiện nay: khu phố 1, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Kiên G, sinh năm 1988; địa chỉ: khu phố 1, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 15/02/2020 và tại bản tự khai ngày 16/6/2020, nguyên đơn anh Hà Văn D trình bày:
Anh Hà Văn D và chị Nguyễn Thị Kiên G có đăng ký kết hôn tại UBND phường T ngày 06//06/2018. Trong thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến hạnh phúc gia đình tan rã, chị G không chăm lo cho gia đình, thường xuyên bỏ nhà ra đi, đã được hai bên gia đình giàn xếp nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã ly thân một năm nay, anh D cũng đã nộp đơn ly hôn tại Tòa án để được giải quyết, Tòa án có mời anh chị đến hòa giải nhưng chị G vắng mặt. Anh D đã rút đơn về để vợ chồng tự hòa giải nhưng không thành. Nay anh D yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị G. Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung. Về tài sản chung và nợ: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Hà Văn D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn chị Nguyễn Thị Kiên G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn cố tình vắng mặt và cũng không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Việc Tòa án nhân dân thành phố T thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định tại các Điều 70, 71, 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại các Điều 70, 72, 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về tố tụng: Đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến và yêu cầu khắc phục gì thêm. Về mặt nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn anh Hà Văn D với bị đơn chị Nguyễn Thị Kiên G.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Nguyên đơn anh Hà Văn D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn chị Nguyễn Thị Kiên G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn cố tình vắng mặt và cũng không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh D và chị G theo quy định tại Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Hà Văn D và chị Nguyễn Thị Kiên G là vợ chồng, tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn ngày 06/6/2018 tại UBND phường Tương Bình Hiệp, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Theo đơn khởi kiện, anh Hà Văn D trình bày nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do trong thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến hạnh phúc gia đình tan rã, chị G không chăm lo cho gia đình, thường xuyên bỏ nhà ra đi, đã được hai bên gia đình giàn xếp nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã ly thân một năm nay, anh D cũng đã nộp đơn ly hôn tại Tòa án để được giải quyết, Tòa án có mời anh chị đến hòa giải nhưng chị G vắng mặt. Anh D đã rút đơn về để vợ chồng tự hòa giải nhưng không thành. Nay anh D yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị G.
Hội đồng xét xử xét thấy: Qua xác minh tại địa phương được biết vợ chồng anh Hà Văn D và chị Nguyễn Thị Kiên G có mâu thuẫn hay không thì địa phương không nắm được, vì vợ chồng anh D, chị G chưa trình báo địa phương về vấn đề mâu thuẫn gia đình. Xét thấy, anh D đã nộp đơn xin ly hôn với chị G tại Tòa án nhân dân thành phố T vào năm 2019. Vì muốn gia đình đoàn tụ nên anh D đã rút đơn khởi kiện và Tòa án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 83/2019/QĐST- HNGĐ ngày 08/11/2019. Tuy nhiên, sau khi anh D rút đơn thì chị G vẫn không thay đổi nên vợ chồng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Anh D và chị G không còn sống chung với nhau một năm nay cho thấy vợ chồng không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm lẫn nhau, người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc nhau muốn sống ra sao thì sống. Hơn nữa, quá trình giải quyết vụ án, chị G đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án và đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt và cũng không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án nên xem như chị G đã từ bỏ quyền trình bày để tự bảo vệ quyền và lợi tích hợp pháp của mình và cũng cho thấy chị G không có thiện chí mong muốn gia đình được đoàn tụ.
Xét thấy, tình trạng mâu thuẫn giữa anh Hà Văn D và chị Nguyễn Thị Kiên G đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc anh D yêu cầu được ly hôn với chị G là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 203, khoản 1 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, khoản 1 Điều 59 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Hà Văn D đối với bị đơn chị Nguyễn Thị Kiên G về việc “Ly hôn”.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Hà Văn D được ly hôn với chị Nguyễn Thị Kiên G.
1.2. Về con chung: Không có.
1.3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Hà Văn D phải chịu số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016-0041622 ngày 17/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T.
3. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố T; - Chi cục THADS thành phố T; - UBND phường T; - Đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Thanh Tuyền |