vanban.org

Bản án 33/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Quỳnh N đối với anh Nguyễn Văn N.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Quỳnh N và anh Nguyễn Văn N. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Quốc H, sinh ngày 11/9/2014 cho chị Nguyễn Thị Quỳnh N tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục sau khi vợ chồng ly hôn. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Quỳnh N về v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Q,N và V,N"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Quỳnh N đối với anh Nguyễn Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 33/2020/HNGĐ-ST
Ngày 18-8-2020
“V/v Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Chọn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Mộng Lành và ông Bùi Minh Cảnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mau - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên tham gia phiên tòa: Ông Trần Khánh Trường - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 72/2020/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2020 về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 08 tháng 7 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2020/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh năm 1994

Địa chỉ: Ấp R, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1976

Địa chỉ: Ấp R, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

(Chị N có mặt, anh N Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và những ý kiến tại Tòa án chị Nguyễn Thị Quỳnh N trình bày như sau:

Chị N và anh N tự nguyện chung sống và được gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương vào năm 2013, đến ngày 20/12/2018 anh chị đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc không xảy ra mâu thuẫn, nhưng thời gian sau thường xuyên phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh N có tính ghen tuông vô cớ về nhà kiếm chuyện cự cải và đánh đập chị N, nhưng vì thương con nghe lời cha mẹ nên chị cố gắng chịu đựng để cho anh N thay đổi, nhưng càng ngày anh N càng ghen nhiều hơn và đánh chị nhiều hơn trước và dọa đòi giết chị, do không chịu được nên vào tháng 10 năm 2019 chị về nhà cha mẹ ruột sống cho đến nay. Nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống cùng nhau nên chị xin ly hôn với anh N.

Về con chung: Chị xác định vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Quốc H, sinh ngày 11/9/2014. Chị N có nguyện vọng được nuôi con chung sau khi vợ chồng ly hôn và không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và nợ chung của vợ chồng: Chị N xác định không có không yêu cầu Tòa án giải quyết

Quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa - bị đơn anh Nguyễn Văn N vắng mặt và không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu xin ly hôn của chị Như.

Chứng cứ nguyên đơn cung cấp: Giấy chứng nhận kết hôn; bản sao khai sinh của cháu Nguyễn Quốc H; giấy chứng minh nhân dân (Bản công chứng). Bị đơn không cung cấp chứng cứ.

Kết quả xác minh từ chính quyền địa phương cho biết: Vợ chồng chị N và anh N xảy ra nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn nguyên nhân là do anh chị thường xuyên cự cải, anh N có tính bạo lực gia đình, hiện tại anh chị đã sống ly thân với nhau khoảng 06 tháng. Sau khi vợ chồng ly thân con sống với mẹ có cuộc sống ổn định và phát triển bình thường.

Tại phiên tòa hôm nay:

Chị Như tiếp tục xin ly hôn với anh N, xin được quyền nuôi con mà không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng chị N xác định không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của Kiểm sát viên:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng (Nguyên đơn) đảm bảo đúng theo quy định, đề nghị áp dụng Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị N được ly hôn với anh N; đề nghị áp dụng Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung và nợ chung không có yêu cầu nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang;

Về quan hệ pháp luật: Chị N xin ly hôn và yêu cầu giải quyết vấn đề con chung nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

Tại phiên tòa anh N đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt anh Ng.

Về nội dung vụ án:

Chị N và anh N chung sống với nhau có thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang theo quy định của pháp luật, do đó hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị N, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án mặc dù được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh N vắng mặt, đồng thời không gửi văn bản nêu ý kiến trước yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị N. Qua lời trình bày của chị N và kết quả xác minh từ địa phương được biết, đời sống vợ chồng giữa chị N và anh N đã xảy ra mâu thuẫn do anh N có tính ghen tuông vô cớ, nhiều lần xúc phạm đánh đập chị N, do không chịu được sự hành hạ của anh N nên chị N đã tự sống ly thân với anh N khoảng 06 tháng nay.

Tòa án cũng đã mở phiên hòa giải để hòa giải đoàn tụ nhưng anh N không chấp hành theo thông báo, không thể hiện thiện chí hàn gắn hôn nhân. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị N đều xin được ly hôn. Từ đó có cơ sở để nhận định mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của chị N, cho chị N được ly hôn với anh N.

Về con chung: Chị N và anh N có một con chung là Nguyễn Quốc H, sinh ngày 11/9/2014. Chị N có nguyện vọng được nuôi con chung không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Qua kết quả xác minh, cho thấy: Sau khi ly thân con chung sống với chị N, quá trình nuôi dưỡng con chị N đảm bảo cho con có cuộc sống ổn định và phát triển bình thường, hiện nay chị N đi làm thuê có thu nhập ổn định có đủ khả năng để nuôi dạy con. Do đó, qua thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của chị N, thống nhất giao cháu Nguyễn Quốc H cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Khi cần thiết anh chị đều có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con, ghi nhận sự tự nguyện của chị N về việc không yêu cầu anh Ngoản phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị N không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Chị N xác định vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết. Nhưng sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị Như và anh N vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ Điều 144 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị N là nguyên đơn chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Xét ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát huyện An Biên là có cơ sở và căn cứ pháp luật chấp nhận như nêu phần nhận định trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia và đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Quỳnh N đối với anh Nguyễn Văn N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Quỳnh N và anh Nguyễn Văn N.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Quốc H, sinh ngày 11/9/2014 cho chị Nguyễn Thị Quỳnh N tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục sau khi vợ chồng ly hôn. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Quỳnh N về việc không yêu cầu anh Nguyễn Văn N cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Khi cần thiết anh chị có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Quỳnh N không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Chị N xác định vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết. Nhưng sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị N và anh N vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Quỳnh N có nghĩa vụ nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008492 ngày 03/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Chị Nguyễn Thị Quỳnh N đã nộp đủ án phí.

6. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

"Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ