- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án tranh chấp nuôi con sau khi ly hôn giữa anh Trần Văn B - chị Phan Thị L"
- Tòa quyết gì? Xử: Không chấp nhận yêu cầu của anh Trần Văn B về việc thay đổi người nuôi con sau khi ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2020/HNGĐ - ST Ngày 19 tháng 8 năm 2020 “V/v tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Văn Tiến Vững
Bà Lê Thị Tôn Thiết
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Oanh – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 139/2020/TLST - HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2020 về tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Trần Văn B, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
2. Bị đơn: Chị Phan Thị L, sinh năm 1994; Địa chỉ: Khu 4, thôn V, xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 27/4/2020 cùng các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa nguyên đơn anh Trần Văn B trình bày: Anh và chị Phan Thị L kết hôn với nhau từ năm 2016, quá trình chung sống anh chị có một con chung là Trần Đức G sinh ngày 26/3/2017, do mâu thuẫn nên năm 2018 anh chị xin ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường. Tại Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 57/2018/HNGĐ-ST ngày 23/10/2018 Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường đã quyết định: Xử cho chị L được ly hôn anh, về con chung chị L được trực tiếp nuôi cháu Trần Đức G, chị L không yêu cầu anh phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn thì cháu G ở với chị L.
Nay anh có đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn vì lý do sau khi ly hôn, chị L và gia đình cản trở không cho anh đến thăm nom con chung và không cho anh đón con, gia đình chị L nuôi cháu G không đảm bảo vì bố chị L và em gái bố chị L bị thần kinh nên anh không yên tâm để cháu G ở với chị L, hiện nay cháu G đã được hơn 36 tháng tuổi, bản thân chị L sắp đi lao động nước ngoài nên việc nuôi con không đảm bảo, chị L không có nhà đất riêng và không có thời gian ở nhà để chăm sóc con nên bỏ bê con, bố chị L mỗi khi lên cơn lại đánh đập cháu G. Hiện nay anh đang làm công nhân cho công ty sản xuất má phanh NISSIN Việt Nam, lương và thu nhập hàng tháng của anh là từ 6.000.000 - 7.000.000 đồng nên anh có đủ điều kiện và khả năng kinh tế để nuôi con. Vì vậy anh xin được thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, anh xin được tiếp tục nuôi cháu Trần Đức G và không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bị đơn chị Phan Thị L trình bày: Về thời gian kết hôn, quá trình chung sống chị và anh B có một con chung theo như anh B đã trình bày là đúng. Tại Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 57/2018/HNGĐ-ST ngày 23/10/2018 Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường đã quyết định: Xử cho chị được ly hôn anh B. Về con chung chị được trực tiếp nuôi cháu Trần Đức G, chị không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn thì cháu G ở với chị, anh B vẫn đến thăm con và gia đình chị vẫn cho anh B đến thăm con, bản thân anh B chưa có lần nào đón con về chơi mà mỗi lần đến thăm con anh B chỉ gây sự với chị và gia đình chị, có lần anh B có đánh chị tại nhà chị và trên đường đi làm dẫn đến chị phải nghỉ làm không đến công ty được. Hiện nay chị vẫn đang đi làm có thu nhập để nuôi con, còn việc chị đang đi học tiếng anh để nâng cao nghiệp vụ không phải đi lao động nước ngoài như anh B khai, hàng ngày chị chăm sóc con đưa đón con đi học, khi nào đi làm thì mẹ chị đón cháu, bố chị bị bệnh về não không nói chuyện được nhưng nhận thức vẫn bình thường, việc anh B khai là bố chị đánh cháu G là không đúng vì bản thân bố chị rất quý trẻ con nên không có việc bố chị đánh cháu G, cô của chị đang ở riêng cùng với bà nội chị không ở chung với mẹ con chị. Bản thân anh B trong thời gian chị nuôi con, anh B chưa có lần nào chu cấp tiền ăn học cho con. Hiện nay thu nhập và lương của chị là 5.950.000đ đây là mức lương thử việc. Sau 3 tháng nữa thì chị được tăng lương lên 7.000.000đ. Hiện nay chị vẫn chăm sóc cháu rất chu đáo và rất tốt. Do vậy chị không đồng ý với yêu cầu của anh B về việc xin thay đổi người nuôi con, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được tiếp tục nuôi cháu Trần Đức G, chị không yêu cầu anh B cấp dưỡng tiền nuôi con cùng chị.
Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký Tòa án và việc chấp hành pháp luật của các đương sự đồng thời phát biểu quan điểm giải quyết vụ án đề nghị căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.
Xử: Không chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn của anh Trần Văn B. Giao cho chị Phan Thị L được tiếp tục nuôi cháu Trần Đức G, sinh ngày 26/3/2017, chị L tự nguyện không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung, anh B có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở
Về án phí: Anh Trần Văn B phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng dân sự: Anh Trần Văn B có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của anh và chị Phan Thị L theo quy định tại khoản 3 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường.
. Về nội dung vụ án: Ngày 23/10/2018 chị Phan Thị L và anh Trần Văn B được Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc giải quyết việc ly hôn. Tại Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 57/2018/HNGĐ - ST của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường đã quyết định: Xử cho chị Phan Thị L được ly hôn anh Trần Văn B. Về con chung giao cho chị Phan Thị L được nuôi dưỡng con chung là Trần Đức G sinh ngày 26/3/2017, chị L không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh B có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Nay anh Trần Văn B xin được nuôi cháu Trần Đức G vì lý do chị L và gia đình L cản trở không cho anh thăm nom con chung, ngoài ra chị L không đảm bảo việc chăm sóc nuôi dưỡng cháu G, anh B có cung cấp chứng cứ chứng minh hiện nay anh đang có công việc và thu nhập ổn định để đảm bảo nuôi con. Chị L không nhất trí vì lý do chị và gia đình chị vẫn chăm sóc tốt cho cháu G, chị L có cung cấp chứng cứ chứng minh chị có công việc và thu nhập ổn định đảm bảo nuôi cháu G và chứng cứ về việc anh B đánh chị khi đi làm có xác nhận của Công an phường K.
Qua xác minh tại địa phương nơi cư trú của anh B cho biết: Hiện nay anh B đi làm và có thu nhập ổn định, gia đình anh B có đủ điều kiện và khả năng để nuôi con chung của anh chị vì lý do bố mẹ anh B còn trẻ và có sức khỏe để có thể chăm sóc cháu.
Qua xác minh tại địa phương nơi cư trú của chị Phan Thị L cho biết: Chị L có đi làm và có thu nhập ổn định, gia đình chị L có đủ điều kiện kinh tế vật chất và tinh thần để đảm bảo nuôi cháu G, bố chị L là ông Phan Văn K bị tai biến từ năm 2014 không phải là bị thần kinh như anh B khai, cô chị L bị bệnh về thần kinh nhưng không ở cùng gia đình chị L mà ăn ở trên nhà đất khác. Việc anh B khai gia đình chị L ngăn cản không cho thăm nom cháu G và bố chị L khi lên cơn đánh cháu G là không đúng.
Khi nộp đơn khởi kiện anh B có nộp kèm theo giấy xác nhận của trưởng thôn Vỡ, xã N về việc gia đình chị L không cho anh thăm nom con chung, chị L cũng cung cấp cho Tòa án giấy xác nhận của trưởng thôn Vỡ, xã N về việc chị L vẫn cho anh B thăm nom và chăm sóc con chung.
Xác minh tại xã N, ông Nghiêm Văn T - trưởng thôn V cho biết: Ngày 07/01/2020 ông có đưa anh B đến nhà chị L để thăm con chung nhưng cháu G đi học chưa về, sau đó ông đưa anh B lên trường học của cháu G để thăm cháu G nhưng không gặp vì cô giáo nói là cháu G vừa được bà T (mẹ chị L) đón về, việc ông xác nhận cho anh B là do ông nhầm lẫn câu từ và không hiểu sự việc, thực tế là không gặp cháu G không phải là không cho thăm nom.
Như vậy căn cứ vào xác minh điều kiện nuôi con của các bên cũng như các căn cứ anh B đưa ra để xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, Hội đồng xét xử xét thấy: Cháu Trần Đức G đang có cuộc sống ổn định và được chị L cùng gia đình chị L chăm sóc, anh B không đưa ra được chứng cứ chứng minh chị L và gia đình chị L không đảm bảo chăm sóc cháu G, hơn nữa hiện nay cháu G còn nhỏ nên cần sự chăm sóc của người mẹ. Do vậy yêu cầu xin nuôi con của anh B không được chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Anh Trần Văn B phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo bản án các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Không chấp nhận yêu cầu của anh Trần Văn B về việc thay đổi người nuôi con sau khi ly hôn. Giao cháu Trần Đức G sinh ngày 26/3/2017 cho chị Phan Thị L tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục, chị L không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Trần Văn B có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Trần Văn B phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số AA/2017/0005007 ngày 21/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường, anh B đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Vĩnh Tường; - CCTHADS huyện Vĩnh Tường; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án + văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Hải THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |