vanban.org

Bản án 33/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị N: Buộc bà Trần Thị S có nghĩa vụ hoàn trả số tiền 347.

Kể từ ngày bà Hồ Thị N có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bà Trần Thị S còn phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, tương ứng với thời gian chậm thi hành án. 2/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Trần Thị S phải chịu 17.382.50… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hồ Thị N - Trần Thị S"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị N: Buộc bà Trần Thị S có nghĩa vụ hoàn trả số tiền 347.
  • Căn cứ chính? Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG PHÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2020/DS - ST
Ngày: 29/6/2020.
“V/v: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
và vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Triều Vũ Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Quyết Chiến.

2. Bà Trần Thị Thanh Nhanh.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Bảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện L.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Bích – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2020, tại Hội trường xét xử – Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tiến hành mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 49/2020/TLST – DS ngày 15 tháng 5 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2020/QĐXXST - DS ngày 11 tháng 6 năm 2020; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Hồ Thị N, sinh năm 1961; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

2. Bị đơn: Bà Trần Thị S, sinh năm 1977; địa chỉ: Ấp S, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/12/2019 cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Hồ Thị N trình bày:

Từ năm 2018 đến năm 2019, bà Hồ Thị N có tham gia 05 dây hụi (chưng hụi) do bà Trần Thị S làm chủ hụi, cụ thể:

Dây hụi thứ nhất: Hụi mở ngày 15/3/2018 âm lịch, loại hụi 1.000.000đồng (một triệu đồng)/chưng, trong dây hụi này bà N tham gia 03 (ba) phần, mỗi phần đóng được 38 (ba mươi tám lần) lần với tổng số tiền 3 phần hụi là 114.000.000 đồng.

Dây hụi thứ hai: Hụi mở ngày 20/02/2019 âm lịch, loại hụi 2.000.000đồng (hai triệu đồng)/chưng , trong dây hụi này bà N tham gia 01 (một) phần, đóng được18 (mười tám) lần với tổng số tiền là 36.000.000 đồng.

Dây hụi thứ ba: Hụi mở ngày 10/9/2018 âm lịch, loại hụi 1.000.000 đồng (Một triệu đồng)/chưng, trong dây hụi này bà N tham gia 02 (hai) phần đóng được 27 (hai mươi bảy) lần với tổng số tiền 02 phần hụi là 54.000.000 đồng.

Dây hụi thứ tư: Hụi mở ngày 20/02/2019 âm lịch, loại hụi 2.000.000đồng (Hai triệu đồng)/chưng, trong dây hụi này bà N tham gia 02 (hai) phần đóng được 08 (tám) lần với tổng số tiền 02 phần hụi là 32.000.000 đồng.

Dây hụi thứ năm: Hụi mở ngày 10/8/2019 âm lịch, loại hụi ngày 50.000đồng (năm mươi nghìn đồng)/chưng, trong dây hụi này bà N tham gia 25 (hai mươi lăm) phần đóng được 70 (bảy mươi) lần với tổng số tiền 25 phần hụi là 87.500.000 đồng.

Ngoài ra vào ngày 29/9/2019 bà N có cho bà S mượn thêm 30.000.000 đồng.

Hiện nay bà S đã tuyên bố ngưng không khui hụi nửa (vỡ hụi), cả 05 dây hụi bà N tham gia trên đều chưa hốt (hụi sống). Số tiền hụi bà S còn nợ bà N là 323.500.000 đồng và 30.000.000đồng tiền mượn. Như vậy hiện bà S còn nợ bà N tổng số tiền 353.500.000đồng.

Sau đó, bà S trả cho bà N số tiền là 5.850.000 đồng còn nợ lại 347.650.000 đồng.

Nay bà Hồ Thị N yêu cầu bà Trần Thị S hoàn trả đủ một lần số tiền nợ vay và nợ hụi là 347.650.000 đồng (trong đó tiền vay là 30.000.000 đồng).

Tại biên bản lấy lời khai ngày 27/5/2020, cũng như tại phiên tòa bị đơn bà Trần Thị S trình bày: bà S thừa nhận có làm chủ hụi các dây hụi đúng như bà N khởi kiện, hiện nay bà S còn nợ bà N tổng cộng tiền hụi là 323.500.000 đồng và tiền vay là 30.000.000 đồng, tổng cộng là 353.500.000 đồng. Sau đó, bà S trả cho bà N số tiền là 5.850.000 đồng còn nợ lại 347.650.000 đồng. Nay bà S thống nhất hoàn trả cho bà N số tiền 347.650.000 đồng và xin bà N cho trả dần số tiền trên.

* Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với những người tham gia tố tụng, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Hồ Thị N yêu cầu bà Trần Thị S hoàn trả cho bà số tiền hụi và tiền vay là 347.650.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện ngày 03/12/2019 và tại phiên tòa hôm nay, bà N yêu cầu bà S có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ hụi và tiền vay là 347.500.000 đồng (trong đó tiền mượn là 30.000.000 đồng). Do vậy xác định đây là tranh chấp hợp đồng góp hụi và vay tài sản theo điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn có trách nhiệm hoàn trả một lần số tiền nợ hụi và tiền vay là 347.650.000 đồng. Bị đơn cũng thừa nhận có nợ nguyên đơn số tiền này. Căn cứ vào Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tình tiết không phải chứng minh. Do vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn hoàn trả 347.650.000 đồng là có căn cứ.

Tại phiên tòa, bị đơn bà S có cung cấp tờ tường trình, các biên bản về số nợ hụi mà bà còn thiếu các hụi viên khác, vì vậy không thể thanh toán một lần số tiền còn nợ theo yêu cầu của nguyên đơn. Bị đơn bà S cũng xin được trả dần số tiền 347.650.000 đồng, nhưng phía nguyên đơn không đồng ý. Do đó, HĐXX không có cơ sở xem xét.

Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của Vị đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Trần Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 17.382.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà Hồ Thị N không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463; khoản 2 Điều 468, Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 15 và Điều 29 Nghị định số 144/2006/NĐ – CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị N: Buộc bà Trần Thị S có nghĩa vụ hoàn trả số tiền 347.650.000 đồng (ba trăm bốn mươi bảy triệu sáu trăm năm mươi ngàn đồng).

Kể từ ngày bà Hồ Thị N có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bà Trần Thị S còn phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Trần Thị S phải chịu 17.382.500 đồng (Mười bảy triệu ba trăm tám mươi hai ngàn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Bà Hồ Thị N không phải chịu án phí. Hoàn trả cho bà Bà Hồ Thị N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.941.000 đồng (bảy triệu chín trăm bốn mươi mốt ngàn đồng) theo biên lai thu số 0003628 ngày 08/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

3/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4/ Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ