- Tranh chấp gì? Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự — án dân sự — "Dân sự phúc thẩm thụ lý số: 423/2019/TLPT-DS ngày 20 tháng 12 năm 2019, về việc “Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành á…"
- Tòa quyết gì? hông chấp nhận yêu cầu kháng cáo của à Trần Thị P.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 188 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2020/DS-PT Ngày: 05-3-2020 V/v tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Đồng.
Các Thẩm phán: Bà V Thị Hồng Mai; à Nguy n Thanh Minh Châu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Công Hậu, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguy n Thị Thu inh, Kiểm sát viên.
Vào ngày 05 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 423/2019/TLPT-DS ngày 20 tháng 12 năm 2019, về việc “Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự”.
Do Bản án Dân sự sơ thẩm số: 34/2019/DS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2019, của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 14/2020/QĐ-PT ngày 15 tháng 01 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị P, sinh năm 1949, cư trú tại: Ấp A, xã O, huyện B, tỉnh Tây Ninh, c mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Trần Thị P: Luật sư Đặng Tấn L1, của Công ty Luật Hợp danh N, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bạc Liêu, c mặt.
- Bị đơn:
+ Anh Trần Văn P1, sinh năm 1976, cư trú tại: Số 461, ấp A, xã O, huyện B, tỉnh Tây Ninh, v ng mặt, c ủy quyền.
Người đại diện theo ủy quyền của anh Trần Văn P1: Bà Đặng Kim L1, sinh năm 1965, cư trú tại: Đường Đ, khu phố Z, Phường U, thành phố M, tỉnh Tây Ninh, c mặt.
+ Chị Phan Thị Thu Q, sinh năm 1983, thường trú tại: Ấp Long G, xã Long C, huyện C, tỉnh Tây Ninh, tạm trú tại: Ấp Phước L, xã Phước V, huyện C, tỉnh Tây Ninh, bị mất năng lực hành vi dân sự.
Người giám hộ của chị Phan Thị Thu Q: Ông Phan Văn D, sinh năm 1963, cư trú tại: Ấp Phước L, xã Phước V, huyện C, tỉnh Tây Ninh, là cha ruột của chị Q, yêu cầu x t xử v ng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Trần Văn H, sinh năm 1970; chị Dương Thị H1, sinh năm 1969. Cùng cư trú tại: Ấp A, xã O, huyện B, tỉnh Tây Ninh, yêu cầu x t xử v ng mặt.
+ Anh Trần Văn , sinh năm 1972, cư trú tại: Ấp A, xã O, huyện B, tỉnh Tây Ninh, v ng mặt không lý do.
+ Chị Trần Thị P2, sinh năm 1978, cư trú tại: Ấp A, xã O, huyện B, tỉnh Tây Ninh, c mặt.
+ Chị Trần Thị M, sinh năm 1985, cư trú tại: Ấp A, xã O, huyện B, tỉnh Tây Ninh, c mặt.
+ Anh Phạm Văn T, sinh năm 1985, cư trú tại: Ấp Tân Hòa, xã Tân Lập, huyện B, tỉnh Tây Ninh, yêu cầu x t xử v ng mặt.
- Người kháng cáo: Bà Trần Thị P là nguyên đơn, anh Trần Văn P1 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị P trình bày:
Bà và chồng là ông Trần Văn H2 (chết năm 2008), c 06 người con chung, gồm: Trần Văn H, Trần Văn , Trần Văn P1, Trần Thị P2, Trần Thị M, Trần Thị Tú A (chết năm 2014).
Vào năm 1980, à và ông H2 khai phá được hơn 10 ha đất tại xã O, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
Năm 1999, à đến Ủy ban nhân dân xã O, huyện B kê khai đăng ký đất, trong đ c 21.251 m2, thuộc thửa số 755, tờ bản đồ số 19 à ký tên trong Đơn xin đăng ký đất ghi ngày 25-8-1999 nhưng ghi cấp cho chủ hộ gia đình là Trần Văn P1. Lúc ấy giờ, anh P1 đang thực hiện nghĩa vụ quân sự, không có mặt tại địa phương, những người con khác của à đã c gia đình ra sống riêng nhưng v n còn tên trong s hộ khẩu.
Anh P1 được đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 01178 Q DĐ/175/QĐ-UB(H) ngày 08-9-1999. Bà nghĩ r ng đất là của mình, ai trong gia đình đứng tên trong giấy chứng nhận cũng được nên không đi đăng ký lại, đất thì à sử dụng từ năm 1980 đến nay, không ai tranh chấp.
Vào năm 2013, Chi cục Thi hành án dân sự huyện B đến kê biên diện t ch đất nêu trên để cưỡng chế thi hành án cho các khoản nợ mà anh P1 và vợ là chị Phan Thị Thu Q phải trả nên à đã khiếu nại đến Ủy an nhân dân huyện B, do không chấp nhận kết quả giải quyết khiếu nại nên à khởi kiện vụ án hành ch nh, yêu cầu hủy văn ản giải quyết khiếu nại và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh P1, sau đ à rút đơn khởi kiện vụ án hành ch nh và khởi kiện ng vụ án này.
Vào năm 2007, anh P1 đã chuyển nhượng và sang tên 558 m2 trong 21.251 m2 đất nêu trên cho ông Huỳnh Ngọc M, diện t ch còn lại là 20.693 m2, việc này à iết và chấp nhận nên không tranh chấp.
Bà khởi kiện yêu cầu anh P1, chị Q giao trả quyền sử dụng diện t ch 20.693 m2 đất và giá trị cây cao su trên đất do à trồng từ năm 2007.
Bị đơn anh Trần Văn P1, do bà Đặng Kim L1 đại diện theo ủy quyền trình bày:
Anh P1 là con của bà P và ông H2, phần đất bà P kiện đòi tuy anh P1 đứng tên nhưng là đất của bà P, ông H2. Anh P1 không kê khai, đăng ký và không biết vì sao được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Năm 2007, anh P1 chuyển nhượng cho ông Huỳnh Ngọc M 558 m2, diện tích còn lại là 20.693 m2, việc chuyển nhượng đất anh P1 giấu không cho bà P iết, tiền chuyển nhượng anh P1 tự tiêu xài.
Chị Phan Thị Thu Q là vợ anh P1, kết hôn năm 2001, ly hôn năm 2013, chị Q đã ký cam kết xác định 20.693 m2 đất bà P tranh chấp là tài sản riêng của anh P1.
Anh P1 chấp nhận trả đất cho bà P, cao su trên đất là của bà P, anh P1 chấp nhận trả. ố tiền phải thi hành theo các ản án khác anh P1 s tự lo.
Bị đơn chị Phan Thị Thu Q, do ông Phan Văn D là người giám hộ trình bày:
Ông là cha ruột và đang nuôi dưỡng chị Q. Chị Q ị ệnh tâm thần, đã c Quyết định giải quyết việc dân sự số: 02/2019/QĐ T-D ngày 02- 8- 2019, của Tòa án nhân dân huyện B tuyên ố chị Q mất năng lực hành vi dân sự và cử ông làm người giám hộ.
Chị Q kết hôn với anh P1 vào năm 2001, ly hôn vào năm 2013.
Khi bà P khởi kiện, chị Q chưa ị ệnh tâm thần, đã ký văn ản xác định đất bà P tranh chấp là tài sản riêng của anh P1, việc trồng và chăm s c cao su chị Q không tham gia, chị không tranh chấp, không yêu cầu gì.
ng giữ nguyên ý kiến của chị Q là không tranh chấp, không yêu cầu gì, giữa bà P và anh P1 giải quyết thế nào thì tùy họ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn H trình bày:
Anh là con của bà P, thống nhất theo ý kiến của bà P, yêu cầu anh P1, chị Q trả lại 20.693 m2 đất và cao su trên đất cho bà P.
nh c đất giáp ranh đất tranh chấp, khi bà P khởi kiện, qua đo đạc phát hiện ra phần đất bà P và anh P1 sử dụng từ trước đến nay c 1.293 m2 n m trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh nhưng không n m trong 20.693 m2 đất bà P kiện đòi nên anh không yêu cầu gì trong vụ án này, anh và anh P1 tự giải quyết với nhau.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Dương Thị H1 trình bày: Chị là vợ của anh H, thống nhất theo ý kiến anh H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Trần Văn , chị Trần Thị P2, chị Trần Thị M trình bày gi ng nhau:
Là con của bà P, thống nhất theo ý kiến của bà P, yêu cầu anh P1, chị Q phải trả lại 20.693 m2 đất và cao su trên đất cho bà P.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Văn T trình bày:
Anh là người c đất giáp ranh với đất anh P1, ranh giới giữa đất anh và đất anh P1 từ trước đến nay không thay đ i. Qua đo đạc thực tế ranh đất anh đang sử dụng so với ản đồ địa ch nh thì c 111 m2 n m trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh P1, do từ trước đến nay sử dụng n định không ai tranh chấp nên anh không c yêu cầu gì.
Bản án Dân sự sơ thẩm s : 32/2018/DS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2018, của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Tây Ninh quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị P đối với anh Trần Văn P1 và chị Phan Thị Thu Q, về việc đòi lại diện t ch đất 20.693 m2, thuộc thửa số 755, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại ấp A, xã O, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
Ngày 19-9-2018, bà Trần Thị P kháng cáo, yêu cầu chia đất tranh chấp cho à và các con vì là đất cấp cho hộ gia đình à và uộc anh P1, chị Q trả cho bà giá trị cây cao su trên đất.
Cùng ngày 19-9-2018, chị Trần Thị P2, chị Trần Thị M, anh Trần Văn , anh Trần Văn H kháng cáo, yêu cầu chia đất tranh chấp cho hộ gia đình của bà P.
Bản án Dân sự phúc thẩm s : 248/2018/DS-PT ngày 23 tháng 11 năm 2018, của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, quyết định:
Hủy Bản án Dân sự sơ thẩm số: 32/2018/DS-ST ngày 05-9-2018, với lý do:
- Chị Q c dấu hiệu ị ệnh tâm thần nhưng chưa được làm r .
- Trong giai đoạn x t xử sơ thẩm, bà P không yêu cầu giải quyết cây cao su trên đất nhưng tại phiên tòa phúc thẩm yêu cầu giải quyết.
Tòa án nhân dân huyện B xét xử lại vụ án, Bản án sơ thẩm s : 34/2019/DS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2019, quyết định:
Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị P đối với anh Trần Văn P1, chị Phan Thị Thu Q, về việc đòi lại 20.693 m2 đất, thuộc thửa số 755, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại ấp A, xã O, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị P về việc yêu cầu anh Trần Văn P1, chị Phạm Thị Thu Q trả giá trị cây cao su trên đất.
Buộc anh Trần Văn P1 hoàn trả cho bà Trần Thị P 451.990.000 đồng giá trị cây cao su trên đất.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; án phí; quyền, nghĩa vụ thi hành án; quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 31 tháng 10 năm 2019, bà Trần Thị P kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà, cho anh P1 được trả lại cho à 20.693 m2 đất.
Ngày 20 tháng 11 năm 2019, anh Trần Văn P1 kháng cáo yêu cầu Tòa án chấp nhận cho anh được trả đất cho bà P.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bà P giữ nguyên kháng cáo, người đại diện theo ủy quyền của anh P1 giữ nguyên kháng cáo của anh P1.
- Luật sư ảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp của bà P đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện, trả đất cho bà P vì các lý do sau đây: Đất là của bà P và ông H2, khi khai phá anh P1 chỉ mới 11 tu i; bà P là người đi đăng ký đất nhưng ghi tên anh P1 là không đúng, lúc ấy giờ anh P1 đang đi nghĩa vụ quân sự; việc anh P1 và chị Q ị x t xử sơ, phúc thẩm uộc trả nợ, anh P1 không chấp nhận và đã khiếu nại giám đốc thẩm, chưa c kết quả; Cơ quan Thi hành án kê iên không đúng vì là tài sản của bà P và ông H2, không phải của anh P1, chị Q; anh P1 thừa nhận đất của cha m nên đã lập hợp đồng tặng cho để trả đất cho bà P.
êu cầu hủy ản án sơ thẩm để x t xử lại, chia thừa kế cho các đồng thừa kế của ông H2 đối với phần đất tranh chấp.
- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà P và anh P1, giữ nguyên ản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét th y:
Anh Trần Văn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng v ng mặt không lý do. ng Phan Văn D, anh Trần Văn H, chị Dương Thị H1, anh Phạm Văn T c đơn yêu cầu x t xử v ng mặt. Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ vào Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự x t xử v ng mặt họ.
t yêu cầu kháng cáo của à Trần Thị P, anh Trần Văn P1 về việc yêu cầu cho anh P1 được trả lại quyền sử dụng đất cho bà P, thấy r ng:
- Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất:
Đất tranh chấp là một phần trong diện t ch đất do vợ chồng à Trần Thị P, ông Trần Văn H2 khai phá từ năm 1980. Vào năm 1999, bà P kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ thể như sau:
+ Bà Trần Thị P đứng tên 80.482 m2.
+ Ông Trần Văn H2 đứng tên 8.653 m2, ông H2 chết vào năm 2008, đến năm 2013 bà P làm thủ tục thừa kế và sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà P.
+ Anh Trần Văn P1 đứng tên 21.251 m2, thuộc thửa số 755, tờ bản đồ số 19, có iấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 01178Q DĐ/175/QĐ-UB(H) ngày 08-9-1999, là đất đang tranh chấp.
Năm 2001 anh P1 kết hôn với chị Phan Thị Thu Q.
Năm 2007, anh P1, chị Q đã chuyển nhượng và sang tên 558 m2 thuộc 21.251 m2 đất nêu trên, cho ông Phùng Ngọc Minh và bà Phùng Thị Dứng, diện t ch còn lại là 20.693 m2.
Năm 2008, anh P1 và chị Q thế chấp toàn ộ 20.693 m2 đất để vay vốn Ngân hàng, đến năm 2009 trả tất nợ.
Quá trình anh P1, chị Q chuyển nhượng và thế chấp đất, bà P và các con bà P iết nhưng không tranh chấp.
Anh P1 và chị Q phải thi hành nghĩa vụ trả tiền theo Bản án phúc thẩm số: 369/2012/D -PT và Bản án phúc thẩm số: 370/2012/D -PT, cùng ngày 22-11-2012, của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, t ng số tiền là 1.202.000.000 đồng và phải nộp tiền án ph anh P1 và chị Q đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự th a thuận của các đương sự số: 285/2013/QĐ T-HN Đ ngày 04-11-2013, của Tòa án nhân dân huyện B, khi ly hôn không yêu cầu giải quyết về tài sản và nợ).
Ngày 08-01-2013, Chi cục Thi hành án dân sự huyện B kê biên 20.693 m2 đất anh P1 đứng tên để cưỡng chế thi hành 02 ản án nêu trên.
Theo yêu cầu của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, Ủy an nhân dân huyện B trả lời ng Công văn số: 120/ BND ngày 19-3-2015 là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 01178Q DĐ/175/QĐ-UB(H) ngày 08-9-1999, công nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân anh Trần Văn P1, không phải đất cấp cho hộ gia đình.
- Về việc khiếu nại, khởi kiện và giải quyết liên quan đến đất tranh chấp:
Anh P1 khiếu nại đến Ủy an nhân dân huyện B, yêu cầu thu hồi iấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 01178Q DĐ/175/QĐ-UB(H) vì cho r ng cấp cho anh là sai đối tượng, yêu cầu hủy Công văn số: 120/ BND ngày 19-3-2015. Ủy an nhân dân huyện B trả lời ng Quyết định giải quyết khiếu nại số: 3618/QĐ- BND ngày 14-12-2016, không chấp nhận khiếu nại của anh P1.
Tháng 02 năm 2017, bà P khởi kiện vụ án hành ch nh, yêu cầu hủy iấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 01178Q DĐ/175/QĐ-UB(H), hủy Công văn số: 120/UBND và Quyết định giải quyết khiếu nại số: 3618/QĐ-UBND, của Ủy an nhân dân huyện B.
Bản án Hành ch nh sơ thẩm số: 06/2017/HC- T ngày 06-7-2017, của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, quyết định:
Đình chỉ yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 01178Q DĐ/175/QĐ-UB(H) vì đã hết thời hiệu khởi kiện.
hông chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P về việc yêu cầu hủy Công văn số: 120/UBND và Quyết định giải quyết khiếu nại số: 3618/QĐ-UBND, của Ủy an nhân dân huyện B.
Bà P kháng cáo nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, bà P rút đơn khởi kiện, sau đ khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu chia 20.693 m2 đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 01178Q DĐ/175/QĐ-UB(H), do anh P1 đứng tên cho bà P và 06 người con của bà P vì à cho r ng đất cấp cho hộ gia đình.
- C căn cứ xác định đất của anh P1 đã được bà P, ông H2 cho vào năm 1999, ởi vì:
+ Tuy việc bà P đứng tên kê khai, đăng ký đất cho anh P1 khi không c ủy quyền của anh P1 là chưa đúng theo quy định tại tiểu mục 2 mục .2 phần của Thông tư số: 346/1998/TT-TCĐC ngày 16-3-1998, của T ng cục Địa ch nh, về hướng d n thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa ch nh và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 1993 nhưng là do ý ch tự nguyện, chủ động của bà P, chồng bà P là ông H2 lúc ấy giờ còn sống nhưng không phản đối.
+ Việc anh P1 đang đi thi hành nghĩa vụ quân sự tại thời điểm đăng ký đất không phải là trường hợp không được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
+ Bà P là người nhận và giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh P1 nhưng không phản đối, không yêu cầu điều chỉnh. Cùng thời điểm đăng ký đất cho anh P1, bà P đăng ký cho bà P đứng tên 80.482 m2; ông H2 đứng tên 8.653 m2.
+ Năm 2007, anh P1 và vợ là Phan Thị Thu Q chuyển nhượng 558 m2, bà P, ông H2 không phản đối. Ngày 12-9-2008 anh P1, chị Q thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay tiền Ngân hàng, bà P không phản đối.
- Bà P cho r ng đất cấp cho hộ gia đình là không đúng vì khi kê khai, đăng ký, bà P không đăng ký theo thủ tục hộ gia đình, không c tên thành viên hộ gia đình tại thời điểm đăng ký. Ủy an nhân dân huyện B đã xác định ng văn ản là đất cấp cho cá nhân anh P1, trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 01178Q DĐ/175/QĐ-UB(H) ghi “Chứng nhận hộ ông (bà) Trần Văn P1” là do phôi của T ng cục Địa ch nh phát hành năm 1999, theo m u, trong phôi đã c in sẵn chữ “Hộ ông (bà)”. Mặt khác, theo tiểu mục 1 mục .2 phần của Thông tư số: 346/1998/TT-TCĐC quy định: Người chịu trách nhiệm kê khai, đăng ký đ t đai bao gồm….Chủ hộ hoặc người được chủ hộ uỷ quyền thay mặt cho hộ gia đình”.
- Anh P1 được bà P cho đất, đứng tên giấy chứng nhận và sử dụng đất từ năm 1999, trong đ c chuyển nhượng, c thế chấp, là tài sản duy nhất của anh P1, đến khi ị kê iên cưỡng chế để thi hành án thì bà P kiện đòi và yêu cầu chia cho hộ gia đình, anh P1 chấp nhận trả đất là nh m trốn tránh nghĩa vụ thi hành án.
Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P là c căn cứ.
Từ những phân t ch nêu trên, không c căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà P và anh P1.
Luật sư ảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp của bà P yêu cầu trả đất cho bà P, ông H2 và hủy ản án sơ thẩm để x t xử lại, chia thừa kế của ông H2 là không c căn cứ.
Trong 20.693 m2 đất bà P khởi kiện c 111 m2 anh Phạm Văn T đang sử dụng theo ranh mà hai ên chủ sử dụng đất đã thống nhất từ trước đến nay nhưng n m trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh P1. Tòa án cấp sơ thẩm không làm r là bà P c yêu cầu anh T điều chỉnh ranh để giao trả đất hay không trong khi anh T trình ày là từ trước đến nay sử dụng n định không ai tranh chấp nên anh không c yêu cầu gì, là thiếu s t.
Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bà P khai nếu yêu cầu của bà P được Tòa án chấp nhận thì à không yêu cầu anh P1 phải trả 111 m2 đất anh T đang sử dụng nên việc x t xử không ảnh hưởng đến quyền lợi của anh T nhưng Tòa án cấp sơ thẩm cần phải rút kinh nghiệm.
Bản án sơ thẩm không tuyên phần lãi suất chậm thi hành án là thiếu s t, Tòa án cấp phúc thẩm cần sung.
Vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà P và của anh P1, giữ nguyên ản án sơ thẩm là c căn cứ.
Về ph phúc thẩm:
- Bà P là người cao tu i nên được mi n theo quy định tại Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Do yêu cầu kháng cáo không được Tòa án chấp nhận nên anh P1 phải chịu theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 296, Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 215 và 255 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 688 của Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 188, Điều 203 của Luật Đất đai; Điều 12, khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy an Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. hông chấp nhận yêu cầu kháng cáo của à Trần Thị P.
2. hông chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Trần Văn P1.
3. iữ nguyên Bản án Dân sự sơ thẩm số: 32/2018/DS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2018, của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Tây Ninh:
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị P đối với anh Trần Văn P1, chị Phan Thị Thu Q, về việc đòi lại và chia cho hộ gia đình của bà P 20.693 m2 đất, thuộc thửa số 755, tờ bản đồ số 19, iấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 01178Q DĐ/175/QĐ-UB(H) ngày 08-9-1999, do Ủy an nhân dân huyện B cấp, anh Trần Văn P1 đứng tên, tọa lạc tại: Ấp A, xã O, huyện B, tỉnh Tây Ninh, có tứ cận như sau: Đông giáp đường xe; Tây giáp đất anh Phạm Văn T; Nam giáp đất anh Trần Văn H; B c giáp đất ông Huỳnh Ngọc M (thửa 1693 làm lối đi). Đất đang ị Chi cục Thi hành án dân sự huyện B kê biên, cưỡng chế để thi hành án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị P về việc yêu cầu anh Trần Văn P1 trả giá trị cây cao su trên đất.
Buộc anh Trần Văn P1 phải trả cho bà Trần Thị P giá trị cây cao su trên 20.693 m2 đất nêu trên với số tiền 451.990.000 ốn trăm năm mươi mốt triệu, ch n trăm ch n mươi nghìn) đồng.
ể từ ngày bà P c đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh P1 chưa giao đủ số tiền như đã nêu trên thì hàng tháng anh P1 còn phải trả cho bà P tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Về chi ph đo đạc, định giá: Bà Trần Thị P tự nguyện chịu 7.100.000 (bảy triệu, một trăm nghìn) đồng, đã nộp xong.
- Về án ph sơ thẩm:
+ Anh Trần Văn P1, phải chịu 22.079.000 hai mươi hai triệu, không trăm bảy mươi ch n nghìn) đồng.
+ Bà Trần Thị P được mi n. Hoàn trả cho bà Trần Thị P 4.275.000 (bốn triệu, hai trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án ph sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số: 0004937 ngày 22-01-2018, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Tây Ninh.
4. Về án ph phúc thẩm:
- Bà Trần Thị P được mi n.
- Anh Trần Văn P1 pháp chịu 300.000 a trăm nghìn) đồng, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án ph phúc phẩm đã nộp theo Biên lai thu số: 0006852 ngày 26-11-2019, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Tây Ninh.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Ðiều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND. TTN; - TAND huyện B; - Chi cục THADS huyện B; - Phòng KTNV&THA. TATTN; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đặng Thị Đồng |