vanban.org

Bản án 33/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang Tuyên án 06/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hàng Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Hàng Văn Đ 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/4/2019. Tiếp tục quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Hàng Văn Đại - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hàng Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGÃ BẢY
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2019/HSST
Ngày: 06/11/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ BẢY, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Huỳnh Kim Cương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Thanh Phương;

2/ Bà Nguyễn Thị Kim Tước.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hùng Thẩm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thu Uyên - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2019/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2019/QĐXXST-HS ngày 24/10/2019 đối với bị cáo:

Hàng Văn Đ, sinh năm:1980; Tên gọi khác: Bé Đ; Nơi cư trú: Ấp XV B, xã HL, thị xã NB, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 04/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hàng Văn C0, sinh năm 1933 (chết) và bà: Nguyễn Thị N0, sinh năm 1944.

Tiền án: 01 lần: Vào ngày 22/12/2016 bị Tòa án nhân dân thị xã Ngã Bảy xử phạt 09 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành án tại Trại tạm giam kênh 5 – Bộ Công an đến ngày 28/6/2017 chấp hành xong.

Tiền sự: 03 lần.

+ Lần 01: Ngày 04/8/2015 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại khu vực 3, phường Hiệp Thành, thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang. Ngày 06/8/2015 bị Công an phường Hiệp Thành ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng), chưa nộp phạt.

+ Lần 02: Ngày 25/9/2016 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại ấp Hòa Lộc 1, xã Xuân Hòa, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Ngày 08/11/2016 bị Công an huyện Kế Sách ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng), chưa nộp phạt.

+ Lần 03: Ngày 12/9/2017 bị Tòa án nhân dân thị Xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 16 tháng. Đến ngày 31/8/2018 chấp hành xong.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 22/4/2019 đến ngày 24/4/2019 khởi tố, chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

- Trần Thanh Q1, sinh năm 1980 (Vắng mặt);

- Huỳnh Thị L1, sinh năm 1980 (Vắng mặt).

Cùng trú tại: Ấp BN, xã ĐT, thị xã NB, tỉnh Hậu Giang.

Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

- Nguyễn Thị N3, sinh năm 1947 (Vắng mặt).

- Võ Thị D3, sinh năm 1970 (Vắng mặt).

- Võ Văn N4, sinh năm 1944 (Vắng mặt).

- Lê Văn N5, sinh năm 1969 (Vắng mặt).

- Trần Kim C3, sinh năm 1980 (Vắng mặt).

Cùng trú tại: Ấp BN, xã ĐT, thị xã NB, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 02 giờ ngày 22/4/2019, ông Trần Thanh Q1 và vợ là bà Huỳnh Thị L1 đang ngủ tại nhà ấp BN, xã ĐT, thị xã NB, tỉnh Hậu Giang thì nghe tiếng gà kêu lớn, nên ông Q1 đi ra xem thì phát hiện cửa nhà bị buộc phía ngoài bằng dây chì và cản lại bằng một chiếc xe đạp, ông Q1 nhìn ra phía ngoài thấy có một bóng thanh niên chạy ra phía ngoài lộ. Ông Q1 dùng chân đạp mạnh vào cửa, làm cửa bung ra và chạy theo thì thanh niên đó lên xe bỏ chạy, ông Q1 dùng chân đạp xe ngã xuống lộ, lúc đó bà L1 chạy ra truy hô, cùng chồng và hàng xóm xung quanh bắt giữ đối tượng lại, đồng thời thu giữ 05 con gà mà đối tượng đã trộm được cùng các vật chứng khác có liên quan. Sau đó điện thoại trình báo Công an xã ĐT.

Quá trình điều tra đối tượng khai nhận tên Hàng Văn Đ và thừa nhận hành vi phạm tội của mình, cụ thể như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 21/4/2019 Hàng Văn Đ đi từ nhà tại ấp XVB, xã HL, thị xã NB, tỉnh Hậu Giang ra quốc lộ 1A đón xe Honda khách của một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) đến quán cà phê sân vườn gần cây xăng Như Hoài tại huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng để uống cà phê. Tại đây Đ gặp H9 (không rõ nhân thân lai lịch) là bạn sử dụng ma túy chung, do không có phương tiện di chuyển nên Đ hỏi mượn xe của H9 để đi lại vài ngày sau sẽ trả, H9 đồng ý và cho mượn xe mô tô biển số kiểm soát 83PT-288.27. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày Đ điều khiển xe về nhà, khi đến quảng lộ Phụng Hiệp gần khu dân cư vượt lũ xã ĐT thì Đ nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, gà vịt của người dân để bán tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng. Trên đường đi tìm tài sản để trộm Đ thấy có hai cái giỏ xách đã cũ ở bên mé lộ, Đ dừng xe lấy hai giỏ xách để lên xe và chạy đến cầu Kênh Đào thì dừng xe lại để sửa hai cái giỏ, lúc này Đ thấy cây búa thầu bên đường nên đã lấy cây búa và tìm khúc cây gác ngang qua yên xe rồi để hai cái giỏ bên hong xe. Sau khi làm xong, Đ điều khiển xe về hướng xã ĐT, khi đến nhà của ông Trần Thanh Q1 thuộc ấp BN, xã ĐT, thị xã NB, tỉnh Hậu Giang; Đ đậu xe ở ngoài lộ và vào trong sân tìm tài sản để trộm. Đ lấy sợi dây chì ở sân cột phía ngoài cửa chính lại và nghe tiếng gà gáy nên ra chuồng gà để bắt trộm, lúc này Đ thấy một sợi dây chì khác nên lấy cột phía ngoài cửa bên hong và lấy chiếc xe đạp (loại xe của trẻ em) có sẵn của nhà Q1 chặn ngay cửa chính ra vào, mục đích là chủ nhà có phát hiện thì Đ có thời gian tẩu thoát. Sau đó Đ đi ra chuồng gà bắt trộm 01 (một) con gà trống màu vàng, 01 (một) con gà trống tre màu xanh đen và 03 (ba) con gà màu bông trắng bỏ vào áo khoác rồi đi ra xe, thì gà kêu lên nên vợ chồng ông Q1 phát hiện phá cửa chạy đuổi theo, lúc này Đ đã bỏ 05 (năm) con gà trộm được vào giỏ định lên xe chạy thoát nhưng bị ông Q1 chạy theo xô ngã xe, bà L1 chạy theo phía sau truy hô và cùng chồng bắt giữ Đ, Đ kháng cự để chạy thoát, trong lúc giằn co Đ có cắn vào cẳng tay trái của bà L1 gây trầy xước nhẹ. Lúc này có người dân xung quanh đến hỗ trợ bắt giữ và trình báo Công an xã ĐT. Quá trình điều tra Hàng Văn Đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Đ có 01 tiền án về hành vi trộm cắp tài sản và 03 tiền sự (trong đó có 02 tiền sự về hành vi trộm cắp và 01 tiền sự bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc).

Căn cứ biên bản kết luận định giá tài sản số: 09 ngày 25/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Ngã Bảy kết luận: Một con gà trống màu vàng trọng lượng 2,650kg; một con gà trống tre màu xanh đen trọng lượng 1,350kg; một con gà trắng bông trọng lượng 0,90kg; một con gà trắng bông trọng lượng 0,85kg; một con gà trắng bông trọng lượng 0,75kg. Tổng cộng 05 con gà trọng lượng 6,5kg, giá thị trường tại thời điểm xảy ra sự việc 100.000đ/kg x 6,5kg = 650.000đ (Sáu trăm năm chục nghìn đồng).

Vật chứng thu giữ: 01 (một) con gà trống màu vàng; 01 (một) con gà trống tre màu xanh đen; 03 (ba) con gà bông trắng; 01 xe mô tô biển kiểm soát 83PT-288.27; 02 (hai) cái giỏ; 01 (một) cây búa thầu bằng sắt; 01 (một) cây kềm; 01 (một) cặp bao tay; 01 (một) cuộn băng keo; 01 (một) đôi dép mũ nhựa màu xanh; 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh trắng; 01 (một) nón vải màu nâu.

Xử lý vật chứng: Vào ngày 09/5/2019 Cơ quan CSĐT-Công an thị xã Ngã Bảy ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả cho ông Trần Thanh Q1 01 (một) con gà trống màu vàng; 01 (một) con gà trống tre màu xanh đen; 03 (ba) con gà bông trắng.

Đối với xe mô tô biển số kiểm soát 83PT-288.27 quá trình điều tra xác định được chủ sở hữu là ông Mai Hùng V9, sinh năm 1962, ĐKTT: Ấp PL, xã PT, huyện CT, tỉnh Sóc Trăng. Quá trình sử dụng ông có cho người quen tên Trần Thế N7, sinh năm 1984, ĐKTT: Ấp GC, xã PT, huyện CT, tỉnh Sóc Trăng mượn xe để sử dụng nhưng đã làm mất và ông V9 đã trình báo Công an xã Phú Tân, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng. Vào ngày 11/7/2019, Cơ quan CSĐT-Công an thị xã Ngã Bảy đã tiến hành chuyển giao xe mô tô biển kiểm soát 83PT-288.27 cho Công an xã Phú Tân, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại cáo trạng số 25/CT-VKS-TXNB ngày 31/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang đã quyết định truy tố Hàng Văn Đ có lý lịch và hành vi phạm tội nêu trên ra trước Toà án nhân dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang để xét xử về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đ diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Hàng Văn Đ theo tội danh và điều luật như quyết định cáo trạng đã truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hàng Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017; đề nghị xử phạt bị cáo Hàng Văn Đ với mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/4//2019.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự

Đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng là công cụ phạm tội và không còn giá trị sử dụng gồm: 02 (hai) cái giỏ; 01 (một) cây búa thầu bằng sắt; 01 (một) cây kềm; 01 (một) cặp bao tay; 01 (một) cuộn băng keo; 01 (một) đôi dép mũ nhựa màu xanh; 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh trắng; 01 (một) nón vải màu nâu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa Hàng Văn Đ thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của bị hại Trần Thanh Q1 và Huỳnh Thị L1 như nội dung cáo trạng đã nêu. Đối chiếu lời khai của bị cáo với lời khai của người bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có đủ cơ sở khẳng định:

Do không có tiền tiêu xài nên Hàng Văn Đ đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cụ thể: Vào đêm 22/4/2019, Hàng Văn Đ phát hiện nhà anh Trần Thanh Q1 có nhốt gà ở chuồng bên hông nhà nên đã lén lút bắt trộm 5 con tổng trọng lượng là 6,5kg trị giá 650.000đ thì bị vợ chồng ông Q1, bà L1 phát hiện truy hô bắt giữ. Trong quá trình giằn co để chạy thoát thân Hàng Văn Đ đã dùng vũ lực hành hung ông Q1 và cắn vào cẳng tay trái của bà L1. Hành vi lần này Hàng Văn Đ không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản và 02 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản. Khi bị hại phát hiện và bắt giữ thì Hàng Văn Đ có hành vi dùng vũ lực, hành hung, kháng cự lại bị hại nhằm mục đích tẩu thoát đây là tình tiết định khung được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Căn cứ biên bản kết luận định giá tài sản số: 09 ngày 25/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Ngã Bảy kết luận: Một con gà trống màu vàng trọng lượng 2,650kg; một con gà trống tre màu xanh đen trọng lượng 1,350kg; một con gà trắng bông trọng lượng 0,90kg; một con gà trắng bông trọng lượng 0,85kg; một con gà trắng bông trọng lượng 0,75kg. Tổng cộng 05 con gà trọng lượng 6,5kg, giá thị trường tại thời điểm xảy ra sự việc 100.000đ/kg x 6,5kg = 650.000đ (Sáu trăm năm chục nghìn đồng).

Từ những hành vi như đã nêu trên và căn cứ vào kết qủa định giá tài sản Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận Hàng Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản theo điểm đ khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đối với bà Huỳnh Thị L1 trong quá trình bắt giữ giằn co với bị cáo thì bị Đ cắn vào cẳng tay trái gây trầy xước, nhận thấy vết thương nhẹ không ảnh hưởng đến sức khỏe và thẩm mỹ nên bà L1 có đơn không yêu cầu giám định thương tích cũng như không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Đối với người đàn ông tên H9 (không rõ nhân thân lai lịch) nên chưa tiếp xúc làm việc được. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ sẽ xử lý sau.

Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người đã có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản và có 02 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo vẫn tiếp tục phạm tội mới và lần phạm tội này là thuộc trường hợp hành hung để nhằm mục đích tẩu thoát. Bị cáo khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bị hại phát hiện đã khống chế và khóa tay bị cáo ra sau lưng nhưng bị cáo vẫn dùng lời lẽ hâm dọa và vùng vẫy, kháng cự cắn vào cẳng tay của bà Huỳnh Thị L1 để lại vết thương rớm máu, cho thấy hành vi của bị cáo là xem thường pháp luật.

Với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trên, xét cần có mức hình phạt tương xứng, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục cũng như đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung. Khi lượng hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Ngã Bảy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Bảy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về vật chứng:

Đối với các vật chứng gồm: 02 (hai) cái giỏ; 01 (một) cây búa thầu bằng sắt; 01 (một) cây kềm; 01 (một) cặp bao tay; 01 (một) cuộn băng keo; 01 (một) đôi dép mũ nhựa màu xanh; 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh trắng; 01 (một) nón vải màu nâu là công cụ phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản và không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 268, Điều 269 và Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Hàng Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Hàng Văn Đ 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/4/2019. Tiếp tục quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

Về vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) cái giỏ; 01 (một) cây búa thầu bằng sắt; 01 (một) cây kềm; 01 (một) cặp bao tay; 01 (một) cuộn băng keo; 01 (một) đôi dép mũ nhựa màu xanh; 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh trắng; 01 (một) nón vải màu nâu.

Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản và không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.

Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo Hàng văn Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi cư trú.

Cỡ chữ