vanban.org

Bản án 33/2019/HSST — Hình sự

TAND Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ Tuyên án 27/02/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố : Bị cáo Đinh Kim T (Chí Hèo) phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt: Bị cáo Đinh Kim T 01 năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 01/2/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Kim T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố : Bị cáo Đinh Kim T (Chí Hèo) phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Dân sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NINH KIỀU
TP. CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2019/HSST
Ngày: 27/02/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Tiến.

- Các Hội thẩm nhân dân :

1. Ông Phan Công Ny

2. Ông Huỳnh Việt Hưng

Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ: Ông Huỳnh Quốc Sang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 02 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 298/2018/HSST, ngày 07 tháng 12 năm 2018 đối với:

Bị cáo Đinh Kim T sinh năm 1983. Nơi sinh: Cần Thơ.

ĐKHKTT: 14/2/37 T1, phường T2, quận T3, thành phố Cần Thơ; Số

CMND: 092083004302; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Con ông: Đinh Kim C (sống) và bà Phan Thị T4 (sống); Tiền sự: Không; Tiền án:ngày 17/3/2008 Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều xử phạt bị cáo 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo bị bắt ngày 01/02/2019. Có mặt.

Bị hại:

Đinh Trần Trúc N, sinh năm 1991. Vắng mặt.

Cư trú: 14/2/37 T1, phường T2, quận T3, thành phố Cần Thơ

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Hữu G, sinh năm 1984. Vắng mặt.

Địa chỉ: 123 T1, phường T2, quận T3, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đinh Kim T và Đinh Trần Trúc N là có mối quan hệ là chị em họ, cả hai cùng sống chung nhà tại địa chỉ 14/2/37 T1, phường T2, quận T3, thành phố Cần Thơ. Vào khoảng 18 giờ ngày 01/9/2018 chị N để điện thoại di động Sam sung J2 Pro màu vàng gold trên bàn cạnh tủ thờ trong phòng khách để vào bếp nấu cơm. Lúc này T quan sát không có ai nên lấy trộm điện thoại của chị N. Sau đó bị cáo đi đến tiệm cầm đồ Hữu G tại số 123 T1, phường T2, quận T3, thành phố Cần Thơ bán điện thoại trên cho anh Nguyễn Hữu G với giá 1.200.000 đồng. Đến 20 giờ 25 phút cùng ngày chị N phát hiện mất điện thoại nên đến cơ quan Công an trình báo sự việc. Qua điều tra bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội.

Tang vật thu giữ 01 điện thoại di động Sam sung J2 Pro màu vàng gold, 02 sim điện thoại Mobiphone và Viettel do anh G giao nộp. Thu giữ của bị cáo 1.184.000 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 897/BKL-HĐĐG ngày 06/9/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND quận Ninh Kiều xác định: 01 điện thoại di động Sam sung J2 Pro màu vàng gold, giá trị còn lại là 2.200.000 đồng.

Ngoài ra bị cáo còn thừa nhận bị cáo đã từng lấy trộm của chị N 01 điện thoại di động không nhớ rõ thời điểm lấy trộm, bị cáo bán điện thoại cho một người đi đường không rõ họ tên địa chỉ với giá 100.000 đồng. Do chị N không trình báo sự việc, cũng không xác minh được người mua, không thu hồi được điện thoại, chị N cũng không có yêu cầu nên không có cơ sở giải quyết.

Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an quận Ninh Kiều đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Đinh Trần Kim N 01 điện thoại di động Sam sung J2 Pro màu vàng gold.

Anh Nguyễn Hữu G khi mua điện thoại của bị cáo, không biết tài sản trên do bị cáo phạm tội mà có, cơ quan điều tra đã thu hồi điện thoại, nên anh G yêu cầu bị cáo bồi thường 1.200.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 281/2018/CT-VKS ngày 07-11-2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, truy tố bị cáo Đinh Kim T về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố. Bị cáo chỉ xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Kiểm sát viên phân tích đánh giá hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng. Trên cơ sở đó, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự. Đề nghị áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, buộc bị cáo bồi thường cho anh Nguyễn Hữu G 1.200.000 đồng.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không nói lời khai sau cùng

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ninh Kiều, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tuy nhiên theo Giấy xác nhận thi hành án số 02/GXN-CCTHADS ngày 05/10/2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ninh Kiều thì bản án số 35/2008/HSST ngày 17/3/2008 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, xử phạt bị cáo 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo Đinh Kim T chưa thi hành phần án phí hình sự sơ thẩm do Chi cục thi hành án dân sự chưa thụ lý. Theo quy định tại khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015 thì người bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn 02 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm. Đối chiếu với trường hợp của bị cáo thì bị cáo không phạm tội mới trong thời hạn 02 năm sau khi chấp hành án xong, thì bị cáo đương nhiên được xóa án tích. Tại khoản 3 điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định người bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, nguời đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định của khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015. Đến thời điểm hiện tại bản án số 35/2008/HSST ngày 17/3/2008 đã hết thời hiệu thi hành, nhưng đối với phần án phí chưa có quy định cụ thể về việc hết thời hiệu thi hành án. Do đó, trong trường hợp này bị cáo chưa thi hành phần án phí hình sự sơ thẩm nên vẫn xem như chưa chấp hành xong bản án, thì không được xóa án tích, vẫn còn tiền án và lần phạm tội này là tái phạm. Tuy nhiên bị cáo không thi hành án phí không phải lỗi do bị cáo mà do thiếu sót của các cơ quan tiến hành tố tụng quận Ninh Kiều, áp dụng nguyên tắc suy đoán có lợi cho bị cáo, thì xem như bị cáo không có tiền án.

Về tội danh: Bị cáo Đinh Kim T lợi dụng việc là chị em sống chung nhà với chị Đinh Trần Kim N để lấy trộm điện thoại di động Samsung J2 của chị N để trên bàn trong nhà. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 897/BKL-HĐĐG ngày 06/9/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND quận Ninh Kiều xác định: 01 điện thoại di động Sam sung J2 Pro màu vàng gold, giá trị còn lại là 2.200.000 đồng. Do đó Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố bị cáo về Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, là có căn cứ pháp luật.

Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, gây tác động xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người lười lao động, nghiện ma túy, không lo tu dưỡng đạo đức tìm việc làm chính đáng để nuôi sống bản thân, là gánh nặng của gia đình và xã hội. Bị cáo và bị hại là chị em họ sống chung một nhà, nhưng bị cáo lại xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người thân, nhiều lần trộm cắp các tài sản trong gia đình dù chưa đủ cơ sở để xử lý hết tất cả các hành vi của bị cáo. Làm cho mọi người trong gia đình hoang mang, đề phòng, không an tâm dù là để tài sản trong nhà.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu từng hai lần bị xử lý trách nhiệm hình sự về hành vi Trộm cắp tài sản và Sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo lại không có ý thức sửa đổi mà lại tiếp tục phạm tội, thời gian cho bị cáo tại ngoại chờ xét xử , bị cáo không sửa đổi mà bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã, chứng tỏ bị cáo là người xem thường pháp luật, khó giáo dục cải tạo, do đó cần có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, và không có yêu cầu về phần trách nhiệm hình sự.

Sau khi bán điện thoại được 1.200.000đồng, bị cáo đã tiêu xài hết 16.000 đồng, số tiền còn lại đã bị cơ quan điều tra thu giữ.

Cơ quan điều tra đã thu hồi tài sản trả cho người bị hại. Nên người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Hữu G yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.200.000 đồng mà anh G đã mua điện thoại của bị cáo. Do không có cơ sở để xử lý anh G về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, nên cần trả lại cho anh G số tiền 1.184.000đồng thu giữ của bị cáo. Anh G cũng có đơn yêu cầu được nhận lại số tiền 1.184.000 đồng, còn lại số tiền 16.000 đồng anh không yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường.

Về xử lý vật chứng:

Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an quận Ninh Kiều đã trả lại cho bị hại Đinh Trần Kim N 01 điện thoại di động Samsung J2 Pro màu vàng gold, 02 sim điện thoại Mobiphone và Viettel.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố : Bị cáo Đinh Kim T (Chí Hèo) phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Kim T 01 năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 01/2/2019.

[1] Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng: khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015.

- Điều 584; Điều 585 Điều Bộ luật dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo bồi thường cho anh Nguyễn Hữu G 1.184.000đồng.

[2] Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Giao trả cho anh Nguyễn Hữu G số tiền 1.184.000 đồng thu giữ của bị cáo.

Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an quận Ninh Kiều đã trả lại cho bị hại Đinh Trần Kim N 01 điện thoại di động Samsung J2 Pro màu vàng gold, 02 sim điện thoại Mobiphone và Viettel.

[3] Về án phí:

Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ