- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lô Văn Ch - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2019/HSST Ngày: 26-7-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoài Nam
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Vi Thị Dung
2. Ông Tôn Hoàng Đức
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thế Khoa - Kiểm sát viên
Ngày 26/7/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:
Lô Văn Ch, tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1996 tại huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An. Nơi thường trú: Bản C, xã C, huyện Qùy Hợp, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lô Văn S (đã chết) và bà Lô Thị S; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Chưa có; Tiền sự: Chưa có; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/3/2019 và tạm giam từ ngày 16/3/2019 đến nay; Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lô Thị S. Sinh năm 1971. Trú tại: Bản Cải, xã Châu Thành, huyện Qùy Hợp, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 16 giờ 50 phút, ngày 07/3/2019, Lô Văn Ch sau khi vừa đổ xăng xong tại cây xăng thuộc Xóm M, xã C, huyện Qùy Châu, tỉnh nghệ An đi ra thì gặp một người đàn ông không quen biết, người này hỏi Ch „„Có muốn kiếm tiền không, nếu muốn thì cầm gói hàng này đưa lên khu vực dốc Pà Hàng thuộc Bản T, xã C, huyện Qùy Châu cho một người đàn ông đang đứng đợi ở đó rồi lấy số tiền 1.500.000đ đi về đây sẽ được trả công 200.000đ‟‟. Ch hiểu gói hàng mà người đàn ông thuê vận chuyển là ma túy và Ch đồng ý. Sau đó người này đưa cho Ch 01 gói được bọc bên ngoài bằng mảnh giấy màu trắng, Ch cầm gói ma túy và điều khiển xe máy đến dốc Pà Hàng, đi được một đoạn thì Ch vứt mảnh giấy màu trắng bọc bên ngoài gói ma túy, còn lại lớp nilong màu hồng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi Ch đang đi trên đường thuộc khu vực Bản T, xã C thì bị tổ công tác Công an huyện Qùy Châu phát hiện bắt quả tang và thu giữ 01 gói ma túy và 01 chiếc xe máy nhãn hiệu SUFAT, BKS 37H1-045.11.
Tại bản Kết luận giám định số 452/KL-PC09(MT) ngày 14/3/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất rắn màu trắng thu giữ của Lô Văn Ch gửi tới giám định là ma túy (Heroin) và có khối lượng 0,73g.
Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu không xác định được lai lịch, địa chỉ của người đàn ông thuê Lô Văn Ch vận chuyển ma túy nên không có cơ sở để xử lý.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Lô Thị S trình bày: Vào khoảng tháng 5/2018 chị Sinh có mua chiếc Xe máy nhãn hiệu SUFAT, BKS 37H1-045.11 của anh Lê Văn Th, trú tại xóm H, xã Đ, huyện Qùy Hợp, tỉnh Nghệ An với giá 9.000.000đ. Qúa trình mua bán có lập giấy tờ và có xác nhận của chính quyền địa phương theo quy định. Việc bị cáo Lô Văn Ch sử dụng xe máy của bà để vận chuyển trái phép chất ma túy vào ngày 07/3/2019 thì bà S không biết. Nay bà S yêu cầu Tòa án trả lại chiếc xe máy trên cho bà S và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì.
Cáo trạng số 34/CT-VKS-HS ngày 12/6/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu đã quyết định truy tố Lô Văn Ch về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 250 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện VKS thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS . Xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo, tịch thu tiêu hủy số Heroin còn lại và vỏ bao niêm phong vật chứng, đề nghị trả lại chiếc xe máy cho bà Lô Thị Sinh và buộc bị cáo phải chịu án phí HSST.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung truy tố của Cáo trạng và không có ý kiến gì trong phần tranh luận. Bị cáo đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Vào khoảng 16 giờ 50 phút ngày 07/3/2019, sau khi đổ xăng xong tại cây xăng thuộc Xóm M, xã C, huyện Qùy Châu thì bị cáo gặp một người đàn ông không quen biết thuê bị cáo vận chuyển 01 gói ma túy đến dốc Pà Hàng thuộc Bản T, xã C, huyện Qùy Châu cho một người đàn ông đang đứng đợi ở đó lấy 1.500.000đ, sau đó quay lại để nhận số tiền công là 200.000đ và bị cáo đồng ý. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày khi bị cáo đang điều khiển xe máy đi trên đường thuộc khu vực bản T, xã C, huyện Qùy Châu thì bị tổ công tác Công an huyện Qùy Châu phát hiện bắt quả tang và thu giữ 01 gói Heroin, 01 chiếc xe máy nhãn hiệu SUFAT, BKS 37H1-045.11.
Thấy rằng lời khai của bị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra là thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Đủ cơ sở để kết luận bị cáo Lô Văn Ch đã phạm vào tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 250 BLHS đúng như nội dung truy tố của Cáo trạng.
[2.2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng các loại ma túy nói chung và Heroin nói riêng là chất gây nghiện được Nhà nước thống nhất quản lý, nghiêm cấm hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy. Mặc dù bị cáo nhận thức được các tác hại của ma túy đến sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác, nhưng do bị cáo lười lao động, muốn kiếm tiền một cách nhanh chóng mà không phải đổ mồ hôi, công sức nên đã thực hiện hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy nhằm thu lợi bất chính. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm và lên cho bị cáo một mức hình phạt tương xứng nhằm răn đe, cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội.
Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ thái độ biết ăn năn hối cải. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[2.3] Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn và không có tài sản. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[2.4] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu đã thu giữ của bị cáo 0,73g Heroin. Sau khi trích 0,13g gửi đi giám định, còn lại 0,6g cùng vỏ bao niêm phong vật chứng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu SUFAT, BKS 37H1-045.11. Xét thấy, đây là tài sản hợp pháp của bà Lô Thị S. Do đó, cần trả lại cho bà S.
[3] Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt Lô Văn Ch 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/3/2019.
- Căn cứ điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 0,6g Heroin cùng vỏ bao niêm phong vật chứng; Trả lại cho bà Lô Thị S 01 chiếc xe máy nhãn hiệu SUFAT, màu sơn đỏ đen, BKS 37H1-045.11 (Tất cả có đặc điểm như mô tả trong Biên bản giao, nhận vật chứng được lập vào hồi 15 giờ 20 phút ngày 12/6/2019 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu).
- Căn cứ vào điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Buộc Lô Văn Ch phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
- Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - VKSND huyện Qùy Châu; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Công an huyện Qùy Châu; - Bộ phận HSNV Công an huyện Qùy Châu; - Chi cục THADS huyện Qùy Châu; - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An; - Phòng KTNV&THAHS-TAND tỉnh Nghệ An; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoài Nam |