- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Nhất N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC TRỌNG TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2019/HSST Ngày: 26-03-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC TRỌNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sinh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Cao Đình Nhân
Ông Nguyễn Đức Thọ
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Trọng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị
Tuyết Sương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2019/HSST ngày 22 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hoàng Nhất N, sinh ngày: 19/12/1979 tại Lâm Đồng; Nơi cư trú: Khu phố Ngh- thị trấn Th - huyện Đ - tỉnh Lâm Đồng; Chỗ ở hiện nay: 108/48 Nguyễn Đình Chiểu- thị trấn L - huyện Đ - tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Sửa xe; Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo:Thiên Chúa; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1946(Chết) và bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1956(Chết); Anh chị em ruột: 07 người; lớn nhất 1975, nhỏ nhất sinh năm 1988; Vợ: Phạm Thị N, sinh năm 1979 (Đã ly hôn); Có 02 con lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2007; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2009 bị xử phạt hành chính về hành vi vi phạm giao thông đường bộ; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/9/2018 đến ngày 21/12/2018 thay thế biện pháp ngăn chặn cho tại ngoại. (Có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: 1/ Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1979.
Nơi cư trú: 42 Ngô Gia Khảm- thị trấn L - huyện Đ - tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt).
2/Chị Võ Thị Thu Th, sinh năm 1995.
Nơi cư trú: Thôn Đà Lâm- xã Đ - huyện Đ - tỉnh Lâm Đồng. (Có mặt tại phiên tòa)
3/Anh Nguyễn Trọng Th, sinh năm 1986.
Nơi cư trú: Thôn Thái Sơn- xã N’ Thôn hạ- huyện Đ- tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1/Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1979, Nơi cư trú: Thôn Đà Lâm- xã Đ - huyện Đ - tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt tại phiên tòa).
2/ Chị Đặng Thị L, sinh năm 1985 Nơi cư trú: Thôn Thái Sơn- xã N’ Thôn Hạ- huyện Đ- tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt).
3/ Ông Lương Hữu B, sinh năm 1963, Nơi cư trú: 10 Hai Bà Trưng- thị trấn L - huyện Đ- tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 15h30 ngày 25/9/2018, anh Nguyễn Trọng Th, sinh năm 1986, trú tại: thôn Thái Sơn- xã N’ thôn Hạ - huyện Đức Trọng đến tại Công an thị trấn Liên Nghĩa trình báo về việc phát hiện một người đàn ông chạy xe máy của mình bị mất trộm vào năm 2017 và anh Thể chở theo đối tượng Nguyễn Hoàng Nhất N, sinh năm 1979, trú tại: 108/48 Nguyễn Đình Chiểu- Thị trấn Liên Nghĩa- huyện Đức Trọng đến Công an thị trấn để làm việc. Tại cơ quan Công an, bị cáo Nguyễn Hoàng Nhất N thừa nhận vào ngày 14/02/2017 tại chợ Liên Nghĩa thuộc thị trấn Liên Nghĩa- huyện Đức Trọng, bị cáo N đã trộm chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave alpha, biển kiểm soát: 85F1-033.14 của anh Nguyễn Trọng Th do vào ngày 14/02/2017 chị Đặng Thị L (là vợ anh Thể), sinh năm 1985, trú tại thôn Thái Sơn- xã N/Thôn Hạ- huyện Đức Trọng điều khiển xe trên để đi chợ. Khi đến chợ, chị L vào bên trong mua hàng, xe để ngoài không ai trông coi nên bị cáo N mở khóa xe và lấy đi. Sau khi trộm được xe, bị cáo N tháo biển số và dùng làm phương tiện đi lại. Căn cứ kết luận định giá số 84 ngày 26/9/2018 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đức Trọng xác định xác định chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave alpha biển kiểm soát: 85F1-033.14 có giá trị là 4.515.000đồng(Bốn triệu năm trăm mười lăm nghìn đồng).
Ngoài ra, trong quá trình điều tra, bị cáo N khai nhận nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cụ thể như sau:
Vụ thứ hai: Vào khoảng 7 giờ ngày 17/8/2016 chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1979 ngụ tại thôn Đà Lâm- xã Đà Loan- huyện Đức Trọng điều khiển xe Yamaha Nozaa, biển kiểm soát: 49E1-378.06, chủ sở hữu là chị Võ Thị Thu Th, trú tại: Thôn Đà Lâm- xã Đà Loan-huyện Đức Trọng đến chợ Đà Loan huyện Đức Trọng. Chị Đồng để xe bên ngoài chợ, chìa khóa xe vẫn còn để trên xe thì bị bị cáo N mở khóa chạy đi. Sau khi trộm được xe, bị cáo N thay đổi biển số xe và sử dụng xe này đến khi bị bắt giữ. Chiếc xe Yamaha Nozaa, biển kiểm soát: 49E1-378.06 của chủ sở hữu là chị Võ Thị Thu Th. Căn cứ kết luận định giá số 84 ngày 26/9/2018 Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đức Trọng xác định chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Nozaa, biển kiểm soát: 49E1-378.06 có giá trị là 30.400.000đồng (Ba mươi triệu bốn trăm nghìn đồng).
Vụ thứ ba: Khoảng 7 giờ 30 ngày 14/01/2018 chị Trần Thị Đ, sinh năm 1979 ngụ tại 42 Ngô Gia Khảm- thị trấn Liên Nghĩa- huyện Đức Trọng điều khiển xe Honda Future Neo, biển kiểm soát: 49N6-1448 đến chợ Liên Nghĩa huyện Đức Trọng. Khi chị Điều đi vào chợ mua hàng để xe bên ngoài chợ, thì bị N mở khóa xe chạy đi. Sau khi trộm được xe, bị cáo N thay đổi biển số xe và sử dụng xe này đến khi bị bắt giữ. Chiếc xe Honda Future Neo, biển kiểm soát: 49N6-1448, chủ sở hữu là anh Lương Hữu B, sinh năm 1963, trú tại: thị trấn Liên Nghĩa- huyện Đức Trọng. Căn cứ kết luận định giá số 84 ngày 26/9/2018 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đức Trọng xác định chiếc xe mô tô hiệu Future Neo có giá trị là 4.300.000đồng(Bốn triệu ba trăm nghìn đồng).
Ngoài ra, bị cáo N còn khai nhận 02 lần trộm cắp xe máy ở chợ Liên Nghĩa vào khoảng năm 2016. Qua xác minh tại Công an Thị trấn Liên Nghĩa- huyện Đức Trọng vào khoảng năm 2016, không có ai trình báo tài sản nên không có cơ sở xử lý hành vi này của bị cáo Nguyễn Hoàng Nhất N.
Về tang vật của vụ án gồm: 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave alpha, 01 xe mô tô Yamaha Nozaa và 01 xe mô tô hiệu Honda Futere Neo. Căn cứ kết luận định giá tài sản số 84 ngày 26/9/2018 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đức Trọng xác định xác định tổng giá trị 03 chiếc xe mô tô mà bị cáo N đã chiếm đoạt có tổng giá trị là 39.215.000đồng(Ba mươi chín triệu hai trăm mười lăm nghìn đồng).
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 27/9/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Trọng đã ra quyết định trả lại cho chủ các sở hữu 03 chiếc xe mô tô trên và các chủ sở hữu đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm về mặt dân sự.
Ngoài ra quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Trọng còn tạm giữ 06 xe máy cũ, 03 biển số và 37 giấy tờ đăng ký xe, giấy phép lái xe, chứng minh nhân dân. Bị cáo N khai nhận có được trong quá trình cầm đồ, sửa xe và mua lại. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Trọng tạm giữ tách ra tiếp tục điều tra xử lý sau theo quy định.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Trọng vẫn giữ nguyên bản Cáo trạng số 142/CT-VKS ngày 24/01/2019 truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Nhất N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Hoàng Nhất N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên đề nghị áp dụng cho bị cáo Nguyễn Hoàng Nhất N được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Hoàng Nhất N phạm tội hai lần trở lên nên đề nghị áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Nhất N từ 09 đến 12 tháng tù. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của các bị hại: Bị hại Võ Thị Thu Th có mặt không có yêu cầu gì. Các bị hại Trần Thị Đ, Nguyễn Trọng Th có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo N.
Ý kiến của các bị cáo Nguyễn Hoàng Nhất N: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở hồ sơ vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Hành vi của bị cáo như sau: Trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến năm 2017, bị cáo Nguyễn Hoàng Nhất N đã nhiều lần lợi dụng sự sơ hở trong việc trong coi quản lý tài sản của chị Nguyễn Thị Đ, chị Trần Thị Đ và chị Đặng Thị L đã lén lút trộm cắp 03 chiếc chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave alpha, biển kiểm soát: 85F1-033.14, xe mô tô hiệu Yamaha Nozaa biển kiểm soát: 49E1-378.06 và chiếc xe mô tô Honda hiệu Future Neo biển kiểm soát: 49N6-1448. Theo biên bản định giá tài sản 84 ngày 26/9/2018 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đức Trọng xác định tổng giá trị tài sản mà bị cáo N chiếm đoạt có tổng giá trị là 39.215.000đồng(Ba mươi chín triệu hai trăm mười lăm nghìn đồng). Hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung bản cáo trạng, bản tường trình của các bị hại và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Hoàng Nhất N phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Hoàng Nhất N là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân tại đia phương. Động cơ mục đích phạm tội là để có tiền tiêu xài cá nhân. Trong thời gian ngắn bị cáo liên tiếp thực hiện nhiều lần trộm cắp, chiếm đoạt tài sản của người dân trên địa bàn huyện Đức Trọng. Do vậy cần áp dụng mức hình phạt, tương xứng tính chất mức độ của hành vi pham tội để răn đe, giáo dục bị cáo và làm gương cho người khác.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Hoàng Nhất N là người đã thành niên, có sức khỏe nhưng lại không chí thú làm ăn lương thiện mà lại chọn con đường phạm tội thu lợi bất chính để phục vụ cho mục đính cá nhân. Bị cáo tham gia nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự 2015.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Nguyễn Hoàng Nhất N. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; một phần tài sản đã thu hồi trả lại cho chủ sở hữu, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo N nên khi lượng hình Hội đồng xét xử áp dụng áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Tang vật của vụ án là: 03 chiếc chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave alpha, Biển kiểm soát: 85F1-033.14, mô tô hiệu Yamaha Nozaa Biển kiểm soát: 49E1-378.06 và chiếc xe mô tô hiệu Future Neo. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Trọng đã thu hồi trả lại cho chủ sở hữu và các chủ sở hữu không có yêu cầu gì thêm về mặt dân sự nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Ngoài ra quá trình điều tra, còn tạm giữ 06 xe máy cũ, 03 biển số và 37 giấy tờ đăng ký xe, giấy phép lái xe, chứng minh nhân dân. Bị cáo N khai nhận có được trong quá trình cầm đồ, sửa xe và mua lại. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Trọng tạm giữ tách ra tiếp tục điều tra xử lý sau theo quy định.
Từ những phân tích nhận định trên nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo Nguyễn Hoàng Nhất N ra khỏi xã hội một thời giam để bị cáo có điều kiện cải tạo, giáo dục mình trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội, góp phần phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Nhất N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Nhất N 09(Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời hạn tạm giữ/ tạm giam từ ngày 26/9/2018 đến ngày 21/12/2018.
2.Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng Nhất N phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Riêng các bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo (được kháng cáo phần có liên quan) trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm./.
| Nơi nhận : -Toà án tỉnh Lâm Đồng; -VKS huyện, Công an huyện Đức Trọng; - Sở tư pháp; -Chi cục THA dân sự; - Bị cáo ; - Các bị hại ; -Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ; - Bộ phận THA phạt tù ; - Lưu HS, AV | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán –Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thị Sinh |