vanban.org

Bản án 33/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 28/02/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Lê Bá H 02 (hai) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án và được trừ vào thời hạn đã tạm giữ bị cáo từ ngày 18/10/2018 đến ngày 27/10/2018. Về trách nhiệm dân sự: bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nên nế… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Bá H - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NHA TRANG
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2019/HS-ST
Ngày: 28/02/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG - TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thu Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lưu Văn Có

Bà Nguyễn Thị Mộng Lành

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Võ Thu Thủy - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Ông Bùi Nguyên Huy – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Nha Trang – tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số /2019/HSST-QĐ ngày 28 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

Lê Bá H - sinh năm: 1990 tại Khánh Hòa; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi ĐKHKTT: Tổ 4, thôn P, phường P, TP. N, Khánh Hòa; Trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Lê Bá Ng và bà: Trần Thị B; Tiền sự: không có.

Tiền án (01): Bản án số 90/2015/HSST ngày 11/5/2015 của Tòa án nhân dân Thành phố Nha Trang xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/12/2016.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/10/2018 đến ngày 27/10/2018, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Ông Nguyễn Văn S – sinh năm: 1985; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: Tổ 11, thôn P, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Ông Nguyễn Xuân Ph – sinh năm: 1991; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn X, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Chỗ ở hiện nay: Tổ 11, thôn P, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị Ng - sinh năm 1987: Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: Tổ 11, thôn P, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông Lê Xuân V – sinh năm 1985. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: 5/12 đường B, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Chỗ ở hiện nay: 7/3 đường N, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

2. Ông Lê Bá Ng – sinh năm 1953. Nơi cư trú: 404/1 đường L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

3. Bà Trần Thị B – sinh năm 1959. Nơi cư trú: 404/1 đường L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền mua ma túy để sử dụng nên khoảng 16 giờ 45 phút ngày 17/10/2018, Lê Bá H đi bộ từ hàng bán bắp của mình đến gặp anh Nguyễn Văn S đang bán nước lựu ép trên vỉa hè đường N, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (bên cạnh công trình đang xây dựng số 48 đường T). Tại đây, H đe dọa anh S: “Mày có tiền không, đưa tao 500.000 đồng, mày bán ở đây là phải biết luật, mày không đưa tao phá không cho mày bán”. Nghe vậy, anh S im lặng và không nói gì. Lúc này, có vài người khách đến mua hàng của anh S thì H đuổi khách của anh S và đi về chỗ bán hàng của mình. Đến khoảng 17h30 cùng ngày, H tiếp tục quay lại hỏi anh S: “Bây giờ mày có tiền đưa cho tao không?”, anh S trả lời: “Bây giờ tao chưa bán được nên chưa có tiền, lát nữa khoảng 19 giờ quay lại nếu bán được thì tao đưa”. Nghe anh S nói vậy thì H bỏ đi.

Khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, H cầm trên tay 1 thanh inox (loại kẹp gắp đá) dài khoảng 40cm, một đầu có gắn lưỡi dao dài khoảng 08 cm, một đầu hình răng cưa quay lại chỗ anh S. H đứng nhìn anh S, đồng thời dùng thanh Inox vỗ nhẹ vào tay trái với mục đích uy hiếp anh S để lấy tiền. do lo sợ H sẽ đánh mình nên anh S lấy toàn bộ số tiền trong túi đeo bên hông mình đưa cho H. H lấy tiền và bỏ đi. Lúc này, tổ công tác Công an phường L - thành phố N, tỉnh Khánh Hòa phát hiện sự việc và đưa H về trụ sở làm việc. tại đây, H đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình và giao nộp số tiền 1.200.000 đồng đã lấy được của anh S.

Ngoài ra, trong quá trình điều tra đã xác định, khoảng 16 giờ ngày 15/10/2018, Lê Bá H đi cùng một thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) đến chỗ anh Nguyễn Xuân Ph (em rể anh S) đang bán nước ép trái cây tại khu vực thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Tại đây, H đe dọa anh Ph: “Mày có tiền thì đưa tao 700.000 đồng, không đưa tao đánh”. Nghe vậy, anh Ph trả lời: “Em chưa bán được, có gì em qua chỗ vợ em bán lấy tiền đưa”. Khi đó, người thanh niên đi cùng H yêu cầu anh Phg lên xe máy để người thanh niên đó chở anh Ph đi lấy tiền, anh Ph không đồng ý và nói: “Giờ em còn có 250.000 đồng thôi”. H liên lấy số tiền trên rồi cùng người thanh niên kia bỏ đi. Số tiền có được, H mua ma túy sử dụng hết.

Tại bản cáo trạng số 25/CT-VKSNT ngày 05/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang đã truy tố bị cáo Lê Bá H về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang đã giữ nguyên kết luận truy tố đối với bị cáo; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g và điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, tuyên phạt bị cáo: từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội có diễn biến như nội dung cáo trạng đã truy tố và cho rằng bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: tại phiên tòa vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng nhưng xét thấy việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo các Điều 292 và 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hành vi phạm tội của bị cáo theo cáo trạng truy tố thì thấy: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ để xác định: Lê Bá H đã 02 lần có hành vi đe dọa dùng vũ lực buộc người khác đưa tiền cho mình cụ thể:

Lần 1: Khoảng 16 giờ ngày 15/10/2018, tại vòng xoay đường L giao với đường T, Phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, Lê Bá H đã đe dọa dùng vũ lực với anh Nguyễn Xuân Ph, buộc anh Ph đưa cho Hoàng 250.000 đồng.

Lần 2: Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 17/10/2018, tại vỉa hè đường N, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa(bên cạnh công trình đang xây dựng số 48 đường T), Lê Bá H đã đe dọa anh Nguyễn Văn S, buộc anh S đưa cho H 1.200.000 đồng.

Các hành vi trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật hình sự. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang đối với bị cáo là đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, để có tiền mua ma túy sử dụng đã nhiều lần uy hiếp tinh thần của người khác để chiếm đoạt tài sản, xâm phạm quyền sở hữu của người khác, gây mất trật tự trị an địa phương; nhân thân bị cáo đã có lần bị kết án chưa được xóa án tích nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g và điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự để xử lý nghiêm khắc.

Tuy nhiên, xét bị cáo cũng đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trong 02 lần phạm tội thì có 01 lần cơ quan công an đã kịp thời thu hồi tài sản trả cho người bị hại nên có thể xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt.

Sau khi xem xét, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy nên xử phạt bị cáo bằng mức phạt tù có thời hạn đủ có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nên nếu có yêu cầu về dân sự sẽ được xem xét, giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi có đơn khởi kiện.

Về vật chứng: Số tiền 281.000 đồng đã thu giữa của bị cáo nên trả lại cho người bị hại Nguyễn Xuân Ph theo nguyện vọng của bị cáo. 01 thanh kim loại dẹp nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 170; điể m s khoản 1 và khoản 2 Điề u 51; điểm g và điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự;

- Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Xử phạt: Bị cáo Lê Bá H 02 (hai) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án và được trừ vào thời hạn đã tạm giữ bị cáo từ ngày 18/10/2018 đến ngày 27/10/2018.

2. Về trách nhiệm dân sự: bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nên nếu có yêu cầu về dân sự sẽ được xem xét, giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi có đơn khởi kiện.

3. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về vật chứng:

- Trả lại cho anh Nguyễn Xuân Ph số tiền 281.000 đồng theo giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước số 0007995 ngày 28/12/2018 của Kho bạc Nhà nước TP. Nha Trang.

- Tịch thu tiêu hủy 1 thanh kim loại dẹp sáng màu dài khoảng 40cm, một đầu có gắn lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 08cm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/01/2019 giữa Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Nha Trang và Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố Nha Trang.

5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ