vanban.org

Bản án 33/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 27/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s Khoản 1 Điều 51, khoản 2 điều 51;

) tháng tù. Thời hạn chấp hành Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận tài sản đã trả lại đầy đủ cho người bị hại. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc Tình và Phạm Kim Dũng phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s Khoản 1 Điều 51, khoản 2 điều 51;
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hính sự xử phạt P Đ D từ; Điều 51 Bộ luật Hính sự xử phạt P Đ D từ; Điều 249 Bộ luật Hính sự xử phạt P Đ D từ
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN ĐỊNH
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33 /2019/HS-ST
Ngày 25-7-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐI ̣NH, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Việt Hòa.

2. Ông Nguyễn Văn Sấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh , Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Đào - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 7 năm 2019 tại Tru ̣ sở Tòa án nhân dân huyê ̣n Yên

Đi ̣nh, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hính sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2019/TLST - HS ngày 07 tháng 6 năm 2019. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2019/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 7 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên : TNT, sinh ngày 25 tháng 9 năm 1995 tại xã QL, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn 5, xã QL, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao đô ̣ng tự do; Trính độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Viê ̣t Nam; Bố đẻ: Trần Quốc T, sinh năm 1963; Mẹ đẻ: Phạm Thị L, sinh năm 1964; Gia đính bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 4; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: không; Tiền án: 03 tiền án:

- Tại bản án số 274/2012/HSST ngày 27/8/2012, bị Tòa án nhân dân quận Hà Đông, TP. Hà Nội xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng về tội trộm cắp tài sản.

- Tại bản án số 60/2013/HSST ngày 24/12/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Tổng hợp với bản án số 274/2012/HSST ngày 27/8/2012 thành 20 tháng 27 ngày tù.

- Tại bản án số 30/2017/HSST ngày 28/9/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/3/2019. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: P Đ D, sinh ngày 10 tháng 9 năm 1994 tại xã CV, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn TY, xã CV, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao đô ̣ng tự do; Trính độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Viê ̣t Nam; Bố đẻ: Phạm Đính C (đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1975; Gia đính bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo có vợ là Trịnh Thị Duyên và 01 con sinh năm 2015; Tiền án: không; Tiền sự: 01 tiền sự:

Ngày 01/9/2017, bị Công an huyện Yên Định xử phạt vi phạm hành chình về hành vi trộm cắp tài sản.

Về nhân thân: Tại bản án số 15/2013/HSST ngày 28/01/2013, bị Tòa án nhân dân quận Ba Đính, TP. Hà Nội xử phạt 26 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Đến thời điểm phạm tội, bị cáo đã chấp hành xong bản án và đã đương nhiên được xóa án tìch.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/3/2019, đến ngày 29/3/2019 thí chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Những người bị hại:

1. Bà PTM, sinh năm: 1963 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn 2, xã QL, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

2. Bà ĐTM, sinh năm: 1954 (Có mặt).

Địa chỉ: Thôn TM, xã YT, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

- Những người làm chứng:

1. Anh LMN, sinh năm 1983 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 2, xã QL, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

2. Anh LHH, sinh năm 1987 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 3, xã QL, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

3. Ông LHT, sinh năm 1962 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 3, xã QL, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

4. Ông LBT, sinh năm: 1956 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn TM, xã YT, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

5. Ông LQL, sinh năm: 1960 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn TM, xã YT, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

6. Anh HCH, sinh năm: 1989 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T L, xã CY, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa.

7. Anh LVM, sinh năm: 1990 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Co Lê, xã CY, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa.

8. Chị ĐTH, sinh năm: 1991 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 4, xã V T, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 17/01/2019, TNT đến nhà P Đ D để rủ D đi chơi. Khi đến địa phận thôn 2, xã QL, huyện Yên Định, phát hiện thấy gia đính bà PTM khóa cửa cổng, không có người ở nhà, Tnảy sinh ý định trộm cắp và rủ D. D đồng ý, cả hai trèo qua tường rào, đột nhập vào nhà bà Miên trộm cắp gà. Tại đây, D và Tbắt trộm 05 con gà của gia đính bà Miên bỏ vào một chiếc bí có sẵn ở chuồng gà, rồi trèo qua tường rào thoát ra bên ngoài và đem số gà trộm cắp được lên đồi cất giấu. Sau đó, cả hai đi bộ đến nhà anh Phạm Văn Thông ở thôn 4, xã QL. Tvào nhà anh Thông mượn xe đạp, rồi cả hai quay lại lấy bí gà trộm cắp đem tiêu thụ. Trên đường Tvà D đem gà đi tiêu thụ bị ông LMN và ông LHH người xã QL phát hiện, đuổi bắt. D bị bắt giữ cùng tang vật trộm cắp đưa đến Công an xã QL giải quyết. Còn Tđạp xe chạy thoát. Sau đó, Tmang chiếc xe đạp đến trước cổng nhà chị Oanh (hàng xóm của ông Thông) để. Chiếc xe này ông Thông đã lấy đem về nhà. Sau khi biết thông tin Tsử dụng xe để trộm cắp gà, ông Thông đã tự nguyện giao nộp chiếc xe cho Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Định xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 07/BB – HĐĐGTS ngày 26/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Yên Định kết luận: 05 con gà của gia đính bà PTM bị Tvà D trộm cắp, có tổng khối lượng 13,2kg. Tại thời điểm bị chiếm đoạt trị giá là 1.540.000 đồng.

Trong thời gian đang tại ngoại, ngày 26/3/2019 P Đ D có nhờ HCH, người xã CY, huyện Cẩm Thủy đi xe máy chở sang khu vực gần đê sông Mã, thuộc địa phận huyện Vĩnh Lộc. Tại đây, D có mua của một người phụ nữ tên H, có biệt danh là Ốc (D khai không biết họ tên đầy đủ và địa chỉ của người này) 01 gói ma túy đã với giá 300.000 đồng để sử dụng. Sau khi mua được ma túy, D cất gói ma túy vào túi quần rồi quay lại chỗ H, nhờ H chở về nhà. Trên đường về đến nhà bà ĐTM ở thôn TM, xã YT, huyện Yên Định, D bảo H dừng xe để D vào nhà bà M bẻ trộm mìa. Khi nhảy qua tường rào, đột nhập vào bên trong nhà bà M, D phát hiện thấy có 01 con chó đang bị xìch trong chuồng bò, nên đã nảy sinh ý định trộm cắp. D lấy 01 cái cuốc ở gần đó đập con chó nhưng bị trượt, con chó vùng đứt xìch sủa to lên rồi bỏ chạy. Nghe tiếng chó sủa, bà M đang làm việc ở khu đồng trước nhà chạy về thí thấy D đang nhảy qua tường rào tẩu thoát. Bà M hô la mọi người đuổi bắt được D đưa đến Công an xã YT giải quyết. Tại đây, Công an kiểm tra túi quần bên phải phìa trước của D có 01 gói nilon màu trắng, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng (D khai là ma túy đá, D vừa mua đem về nhà để sử dụng). Công an xã YT đã báo cáo Công an huyện Yên Định đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với D về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tại kết luận giám định số 906/MT – PC 09 ngày 29/3/2019 của Phòng Kỹ thuật hính sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Các hạt tinh thể màu trắng thu giữ trong người P Đ D là Methaphetamine, có khối lượng là 0,305 gam.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 13/BB – HĐĐGTS ngày 02/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Yên Định kết luận: 01 con chó của gia đính bà ĐTM có khối lượng 23kg. Trị giá tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.610.000 đồng.

Quá trính điều tra xác M về người có tên H đã bán ma túy cho D, Cơ quan điều tra cũng đã tiến hành xác M nhưng không xác định được người phụ nữ này là ai, ở đâu, nên không có đủ cơ sở để xử lý người này về hành vi bán trái phép chất ma túy.

Đối với HCH là người đã chở D đi mua ma túy, theo D khai việc D mua ma túy sau đó thực hiện hành vi trộm cắp chó nhà bà ĐTM, H không biết. Cơ quan điều tra cũng đã tiến hành xác M, thu thập lời khai của H, nhưng H không có mặt tại địa phương, nên không thu thập được. Do vậy, chưa có đủ cơ sở để xác định H có biết hay không biết việc D mua và tàng trữ ma túy, cũng như việc D trộm cắp chó của gia đính bà M. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xác M, xử lý sau khi có đủ cơ sở.

Về vật chứng của vụ án:

Cơ quan điều tra đã thu giữ:

- 05 con gà (02 con gà trống, 03 con gà mái) có tổng khối lượng 13,2kg; 01 chiếc xe đạp khung nam, nhãn hiệu Thống Nhất màu xanh, xe đã cũ. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu. Những người bị hại đã được nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu các bị cáo bồi thường.

- 01 chiếc bí xác rắn màu trắng, ký hiệu Kaki CANADA; 01 chiếc cuốc cán gỗ dài 1,05m, bị gãy làm 03 đoạn, đường kình cán 03 cm, lưỡi cuốc bằng kim loại.

- 01 gói nilon màu trắng, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng (kết quả giám định là Methaphetamine); mẫu vật hoàn lại sau giám định là toàn bộ gói mở niêm phong và 0,256 gam các hạt tinh thể màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định. Tất cả được đựng trong 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng Kỹ thuật hính sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành được dán kìn, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Lưu Bính Nguyên, Trịnh Ngọc Hanh và các hính dấu của Phòng Kỹ thuật hính sự Công an tỉnh Thanh Hóa.

Vật chứng nêu trên đã chuyển đến chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định chờ xử lý

Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKSYĐ ngày 05/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh đa truy tỗ

́ bị can TNT về tô ̣i “Trô ̣m cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hính sự. Truy tố bị can P Đ D về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 173 và điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hính sự.

Tại phiên tòa các bị cáo TNT, P Đ D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mính và xin giảm nhẹ hính phạt.

Đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hính sự, tuyên bố bị cáo TNT phạm tội “Trộm cắp tài sản”; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hính sự, tuyên bố P Đ D phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp du ̣ng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 của Bộ luật Hính sự xử phạt TNT từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 55 của Bộ luật Hính sự xử pha ̣t P Đ D từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại đã được nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hính sự , điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hính sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy loại Methamphetamine thu giữ của bị cáo P Đ D; 01 chiếc bí xác rắn màu trắng, ký hiệu Kaki CANADA; 01 chiếc cuốc cán gỗ dài 1,05m, bị gãy làm 03 đoạn, đường kình cán 03 cm, lưỡi cuốc bằng kim loại.

Các bị cáo phải chịu tiền án phì hính sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

̀

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐÔNG XÉ T XƢ̉ :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Nhận định về hành vi, quyết định tố tụng:

Quá trính điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Như vậy, hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Định, hành vi của Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, trong quá trính điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trính tự, thủ tục, theo quy định của Bộ luật tố tụng hính sự.

[2] Nhận định về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Thông qua tranh tụng tại phiên toà, các bị cáo TNT và P Đ D hoàn toàn thừa nhận: Ngày 17/01/2019, Tvà D thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản của bà PTM ở thôn 2, xã QL, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, tài sản trộm cắp bao gồm: 05 con gà (02 con gà trống và 03 con gà mái), trị giá là 1.540.000 đồng.

Tiếp đó, ngày 26/3/2019, D có hành vi tàng trữ trái phép 0,305 gam ma túy loại Methaphetamine và trộm cắp 01 con chó của bà ĐTM ở thôn Tu Mục, xã YT, huyện Yên Định, trị giá tài sản trộm cắp là 1.610.000 đồng.

Đối chiếu với lời khai của bị cáo trong hồ sơ vụ án, lời khai của những người bị hại, biên bản phạm tội quả tang, biên bản định giá tài sản, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án thấy hoàn toàn phù hợp. Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ chứng M hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo TNT và hành vi trộm cắp tài sản, tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo P Đ D.

Bị cáo TNT trộm cắp tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng, nhưng trước đó bị cáo đã 03 lần bị bị kết án về tội trộm cắp tài sản. Hành vi của bị cáo TNT đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Như vậy, tội danh chình thức đã được thành lập theo điểm b khoản 1 điều 173 Bộ luật hính sự.

Bị cáo P Đ D trộm cắp tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng, nhưng trước đó bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chình về hành vi trộm cắp tài sản mà còn vi phạm. Hành vi của bị cáo TNT đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Như vậy tội danh chình thức đã được thành lập theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hính sự. Hành vi tàng trữ trái phép 0,305 gam ma túy của bị cáo P Đ D đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh chình thức đã được thành lập theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hính sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố các bị cáo theo tội danh trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tình chất mức độ nguy hiểm của tội phạm như sau:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản của cá nhân, làm mất trật tự trị an địa bàn. Các bị cáo lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Mục đìch là để lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo P Đ D là nghiêm trọng. Xâm phạm trực tiếp chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự xã hội, xâm phạm đến sức khoẻ và sự phát triển giống nòi của dân tộc. Ví vậy, cần có mức hính phạt tương xứng với hành vi phạm tội mới có tác dụng răn đe, đấu tranh phòng chống tội phạm về ma tuý đang diễn ra hết sức phức tạp trên địa bàn hiện nay.

Đánh giá tình chất đồng phạm là giản đơn, Tlà người khởi xứng và cùng thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, vai trò của bị cáo Tcao hơn D.

[4] Về Ttiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân:

Bị cáo TNT không có Ttiết tăng nặng trách nhiệm hính sự và được hưởng Ttiết giảm nhẹ trách nhiệm hính sự là thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hính sự.

Bị cáo P Đ D phải chịu Ttiết tăng nặng trách nhiệm hính sự là phạm tội từ 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hính sự. Được hưởng Ttiết giảm nhẹ trách nhiệm hính sự là thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hính sự.

Trên cơ sở đánh giá tình chất vụ án, các Ttiết giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo TNT đã nhiều lần phạm tội. Mới chấp hành hính phạt tù xong lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo P Đ D đã có hành vi trộm cắp tài sản bị xử phạt vi phạm hành chình. Bị cáo chưa chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chình mà lại tiếp tục có hành vi phạm tội trộm cắp tài sản. Điều đó thể hiện các bị cáo chưa có ý thức tu dưỡng rèn luyện bản thân, không chịu cải tạo lao động làm ăn lương thiện. Ví vậy, cần áp dụng hính phạt tù, đưa các bị cáo vào môi trường cải tạo nghiêm khắc theo quy chế trại giam. Mục đìch để trừng trị và giáo dục các bị cáo ý thức chấp hành pháp luật. Đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.

Hính phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản, phạm tội chưa được hưởng lợi gí nên không áp dụng hính phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị trộm cắp đã trả lại đầy đủ cho những người bị hại. Bà PTM và bà ĐTM không yêu cầu gí thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe đạp khung nam, nhãn hiệu Thống Nhất màu xanh, Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho ông Phạm Văn Thông là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với 01 chiếc bí xác rắn màu trắng, ký hiệu Kaki CANADA và 01 chiếc cuốc cán gỗ dài 1,05m, bị gãy làm 03 đoạn, đường kình cán 03 cm, lưỡi cuốc bằng kim loại là công cụ, phương tiện phạm tội, không còn giá trị sử dụng. Người bị hại không yêu cầu trả lại cần tịch thu tiêu hủy.

Số mẫu vật 0,256 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định, đựng trong 01 phong bí niêm phong mẫu vật do Phòng Kỹ thuật hính sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành được dán kìn, niêm phong. Có các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Lưu Bính Nguyên, Trịnh Ngọc Hanh và các hính dấu của Phòng Kỹ thuật hính sự Công an tỉnh Thanh Hóa. Đây là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.

[7] Về án phì: Các bị cáo TNT, P Đ D bị kết án nên phải chịu án phì hính sự sơ thẩm, theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hính sự, tuyên bố bị cáo TNT phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hính sự, tuyên bố bị cáo P Đ D phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 của Bộ luật Hính sự.

Xử pha ̣t TNT 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hính phạt tù tình từ ngày bắt tạm giam 29/3/2019.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 55 của Bộ luật Hính sự.

Xử pha ̣t P Đ D 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Trô ̣m cắp tài sản” . 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hính phạt của hai tội là 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hính phạt tù tình từ ngày tạm giữ 26/3/2019.

Không áp dụng hính phạt bổ sung đối với các bị cáo TNT, P Đ D.

2. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản trộm cắp đã trả lại đầy đủ cho những người bị hại.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luâ ̣t Hinh sự;

̀ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hính sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc bí xác rắn màu trắng, ký hiệu Kaki CANADA; 01 chiếc cuốc cán gỗ dài 1,05m, bị gãy làm 03 đoạn, đường kình cán 03 cm, lưỡi cuốc bằng kim loại; số mẫu vật 0,256 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định, đựng trong 01 phong bí niêm phong mẫu vật do Phòng Kỹ thuật hính sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành. Được dán kìn, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Lưu Bính Nguyên, Trịnh Ngọc Hanh và các hính dấu của Phòng Kỹ thuật hính sự Công an tỉnh Thanh Hóa.

Các vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự theo Phiếu nhập kho số NK35/2019 ngày 06/6/2019.

4. Về án phì: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hính sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phì và lệ phì Tòa án.

Buộc các bị cáo TNT, P Đ D mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghín đồng) tiền án phì hính sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hính sự, tuyên bố quyền kháng cáo bản án cho bị cáo, người bị hại trong hạn 15 ngày tình từ ngày tuyên án. Đối với người bị hại vắng mặt, thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày, tình từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Thanh Hoá;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA

- VKSND tỉnh Thanh Hóa;

- VKSND huyện Yên Định;

- Công an huyện Yên Định;

- Trại tạm giam Công an Thanh Hóa;

- Bị cáo; bị hại;

- Chi cục THADS Yên Định;

- Lưu hồ sơ.

Phạm Hữu Thắng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA

Lê Việt Hòa

Nguyễn Văn Sấn

Phạm Hữu Thắng TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN YÊN ĐỊNH

Độc lập -Tự do - Hạnh phúc TỈNH THANH HOÁ

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HOÁ

Vào hồi ….. h …… phút ngày 25/7/2019.

Tại phòng nghị án, TAND huyện Yên Định tỉnh Thanh Hóa.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hữu Thắng

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Việt Hòa,

2.Ông Nguyễn Văn Sấn,

Tiến hành nghị án vụ án hính sự sơ thẩm thụ lý số ……21/2019/TLST - HS ngày ……tháng …… năm 2019.

Họ và tên : TNT, sinh ngày 12 tháng 01 năm 2001 tại xã Định Tiến , huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cƣ trú: Thôn Duệ Thôn, xã Định Tiến, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hó a;

Họ và tên: P Đ D, sinh ngày 04 tháng 02 năm 2002 tại xã Định Tiến, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cƣ trú: Thôn Yên Thôn, xã Định Tiến, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hó a;

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đó được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU:

1. Vụ án có thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung hay không?

HĐXX thảo luận và thống nhất biểu quyết 3/3 = 100%.

Không thuộc trường hợp tạm đính chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

2. Tính hợp pháp của những chứng cứ tài liệu do cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập, do Luật sư, bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cung cấp.

HĐXX thảo luận: Quá trính điều tra, truy tố, chứng cứ tài liệu của điều tra viên, kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cung cấp là hợp pháp, thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hính sự.

HĐXX thống nhất biểu quyết 3/3 = 100%.

3. Căn cứ kết tội bị cáo.

HĐXX thảo luận: Thông qua tranh tụng tại phiên toà, các bị cáo TNT và P Đ D hoàn toàn thừa nhận: Ngày 17/01/2019, Tvà D thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản của bà PTM ở thôn 2, xã QL, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, tài sản trộm cắp bao gồm: 05 con gà (02 con gà trống và 03 con gà mái), trị giá là 1.540.000 đồng.

Tiếp đó, ngày 26/3/2019, D có hành vi tàng trữ trái phép 0,305 gam ma túy loại Methaphetamine và trộm cắp 01 con chó của bà ĐTM ở thôn Tu Mục, xã YT, huyện Yên Định, trị giá tài sản trộm cắp là 1.610.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà D trộm cắp hai lần là 3.150.000 đồng.

Như vậy, đủ căn cứ kết tội bị cáo TNT phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hính sự.

Như vậy, đủ căn cứ kết tội bị cáo P Đ D phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 173, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hính sự.

HĐXX thống nhất biểu quyết 3/3 = 100%. Bị cáo phạm tội như trên

4. Hình phạt, trách nhiệm dân sự: HĐXX thảo luận:

Xử pha ̣t:

Xử phạt

- Trách nhiệm dân sự: Tài sản trộm cắp đã trả lại đầy đủ cho những người bị hại.

HĐXX thảo luận và thống nhất biểu quyết 3/3 = 100% nội dung trên.

5. Bị cáo có thuộc trường hợp miễn TNHS, miễn hình phạt hay không?

HĐXX thảo luận: Các bị cáo không thuộc trường hợp được miễn TNHS và hính phạt.

HĐXX biểu quyết 3/3 = 100%.

6. Về điều luật áp dụng:

HĐXX thống nhất áp dụng: Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 171, điểm b, h, s khoản 1điều 51, …………………… của Bộ luật Hính sự.

Điều 136, Khoản 1 điều 331, 333 Bộ luật TTHS. Điểm a khoản 1 điều 23, Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phì, lệ phì Tòa án. Khoản 1 điều I Mục A của Danh mục án phì, lệ phì Tòa án ban hành kèm theo Nghị Quyết.

HĐXX biểu quyết 3/3 = 100%.

7. Về các vấn đề khác:

HĐXX thảo luận và thống nhất biểu quyết những vấn đề sau:

- Án phí: Buộc các bị cáo tính, D mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phì hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo:

Tuyên bố quyền kháng cáo bản án cho các bị cáo trong hạn 15 ngày tình từ ngày tuyên án. Đối với người bị hại vắng mặt, thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày, tình từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

HĐXX biểu quyết 3/3 = 100%.

8. Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên, trong quá trình điều tra truy tố xét xử.

Quá trính điều tra, truy tố, hành vi tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hính sự.

HĐXX biểu quyết 3/3 = 100%.

9. Kiến nghị phòng ngừa khắc phục vi phạm: Không

HĐXX biểu quyết 3/3 = 100% tất cả các vấn đề trên, ra bản án và tuyên án

Nghị án kết thúc hồi 11h cùng ngày.

Biên bản lập xong đọc lại cho các thành viên Hội đồng xét xử nghe công nhận là biên bản nghi đúng ý kiến đã thảo luận và thống nhất ký tên.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA Lê Việt Hòa

H Thị Thu

Phạm Hữu Thắng

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Thanh Hoá;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA

- VKSND tỉnh Thanh Hóa;

- VKSND huyện Yên Định;

- Công an huyện Yên Định;

- Trại tạm giam Công an Thanh Hóa;

- Bị cáo; bị hại;

- Chi cục THADS Yên Định;

- Lưu hồ sơ.

Phạm Hữu Thắng

Khoảng 02 giờ ngày 06/02/2019, Nguyễn Kim D từ nhà đi xe mô tô Sirius, biển kiểm soát 36K5-179.51 đến địa bàn xã Yên Thịnh, huyện Yên Định với mục đìch xem nhà dân nào có sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi đến gia đính anh Trịnh Viết Kiên ở thôn 1, xã Yên Thịnh, thấy bên trong nhà anh Kiên có đèn sáng. D dựng xe mô tô ngoài đường, trèo qua tường rào, đột nhập vào nhà anh Kiên tím tài sản trộm cắp. Khi vào phòng khách quan sát thấy ở gần cửa ra vào có 01 chiếc điện thoại Iphone 7 đang cắm sạc. D lấy điện thoại bỏ vào túi. Sau đó đi vào phòng ngủ nhín thấy 01 chiếc túi sách ở dưới sàn nhà, kiểm tra bên trong thấy có tiền. D lấy toàn bộ số tiền trong túi rồi theo đường cũ thoát ra ngoài. Sau đó, D tiếp tục đi mô tô đến xã Yên Phú. Khi qua nhà bà Đỗ Thị Nam ở thôn Bùi Hạ 1, xã Yên Phú, thấy cửa nhà Bà Nam mở, bên trong có ánh sáng của đèn nháy trang trì. D nảy sinh ý định vào nhà bà Nam trộm cắp tài sản nên đã để xe bên ngoài trèo qua tường rào, đột nhập vào nhà bà Nam. Tại đây, D trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động Iphone 5s trên đầu giường nơi vợ cH anh Lê Đính Tùng (là con rể bà Nam) đang ngủ trong gian buồng. Đồng thời lấy toàn bộ số tiền trong túi xách màu đen để trong tủ kình. Sau khi lấy được điện thoại và số tiền trên, D trèo tường ra ngoài thí bị gia đính bà Đỗ Thị Nam và quần chúng nhân dân phát hiện, bắt giữ giao cho công an xã Yên Phú. Sau đó công an xã lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang. Thu giữ các tang vật có liên quan, gồm 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 36K5-17951, 01 điện thoại di động Iphone 5s màu đen bạc, 01 điện thoại di động Iphone 7 màu trắng đồng và số tiền 325.000 đồng. Sau đó chuyển đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Định điều tra, giải quyết theo thẩm quyền.

Về nguồn gốc tài sản và số lượng tiền chiếm đoạt, quá trính điều tra đã xác định: Chiếc điện thoại Iphone 7, D trộm cắp tại nhà anh Trịnh Viết Kiên là tài sản của anh Kiên. Số tiền D trộm cắp tại nhà anh Kiên là 1.200.000 đồng, là tài sản của cháu Trịnh Thị Vân Anh (con gái anh Kiên). Chiếc điện thoại Iphone 5s và số lượng tiền D trộm cắp tại nhà bà Đỗ Thị Nam là 4.330.000 đồng, là tài sản của anh Lê Đính Tùng.

Tại biên bản định giá tài sản số 08/BB – HĐĐGTS ngày 08/02/2019 xác định, chiếc điện thoại Iphone 7 của Trịnh Viết Kiên trị giá 8.000.000 đồng.

Tại biên bản định giá tài sản số 09/BB – HĐĐGTS ngày 08/02/2019 xác định, chiếc điện thoại I phone 5s của anh Lê Đính Tùng phone trị giá 2.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 6.330.000 đồng.

Quá trính điều tra xác định chiếc xe mô tô Yamaha Sirius, biển kiểm soát 36K5-17951, mà Nguyễn Kim D sử dụng làm phương tiện phạm tội là xe của chị Nguyễn Thị Vinh, sinh năm 1984. Trú tại thị trấn Ngọc Lặc, huyện Ngọc Lặc (là bạn gái của D). Khi D sử dụng chiếc xe làm phương tiện đi trộm cắp chị Vinh không biết. Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho chị Vinh.

Về vật chứng của vụ án:

Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 36K5-17951, 01 điện thoại di động Iphone 5s màu đen bạc, 01 điện thoại Iphone 7 màu đồng và số tiền 535.000 đồng (trong đó có 325.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang và 210.000 đồng thu giữ qua truy tím vật chứng).

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trính điều tra, gia đính bị cáo đã bồi thường đầy đủ số tiền trộm cắp cho các bị hại. Những bị hại không yêu cầu bồi thường thêm khoản nào khác.

Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKSYĐ ngày 25/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh đa truy tỗ

́ bị cáo Nguyễn Kim D về tô ̣i “Trô ̣m cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hính sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Kim D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mính và xin giảm nhẹ hính phạt.

Đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hính sự tuyên bố bị cáo Nguyễn Kim D phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp du ̣ng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hính sự xử phạt Nguyễn Kim D từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ tạm giam 23 ngày. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã trả lại cho những người bị hại đầy đủ. Bị cáo phải chịu tiền án phì hính sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

̀

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐÔNG XÉ T XƢ̉ :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Nhận định về hành vi, quyết định tố tụng:

Quá trính điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Như vậy, hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Định, hành vi của Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, trong quá trính điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trính tự, thủ tục, theo quy định của Bộ luật tố tụng hính sự.

[2] Nhận định về hành vi phạm tội của bị cáo:

Thông qua tranh tụng tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Kim D hoàn toàn thừa nhận: Vào khoảng 02 giờ ngày 06/02/2019, D thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản của anh Trịnh Viết Kiên ở thôn 1, xã Yên Thịnh, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, tài sản trộm cắp bao gồm: 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 của anh Trịnh Viết Kiên và số tiền 1.200.000 đồng của cháu Trịnh Thị Vân Anh (con gái anh Kiên). Sau đó, D tiếp tục thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản của của anh Lê Đính Tùng gồm 01 điện thoại di động Iphone 5s và số tiền 4.330.000 đồng. Tổng giá trị tài sản trộm cắp của hai lần bị cáo trộm cắp là 15.530.000 đồng.

Đối chiếu với lời khai của bị cáo trong hồ sơ vụ án, lời khai của những người bị hại, biên bản phạm tội quả tang, biên bản định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án thấy hoàn toàn phù hợp. Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ chứng M hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo Nguyễn Kim D. Hành vi đó đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Như vậy tội danh chình thức đã đ-ược thành lập theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hính sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố bị cáo theo tội danh trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tình chất mức độ nguy hiểm của tội phạm như sau:

Tình chất của vụ án là ìt nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản của cá nhân, làm mất trật tự trị an địa bàn. Bị cáo lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Mục đìch là để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Ví vậy, cần xử lý nghiêm bằng pháp luật hính sự nhằm giáo dục bị cáo và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

[4] Về Ttiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân:

Bị cáo phải chịu Ttiết tăng nặng trách nhiệm hính sự là phạm tội từ 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hính. Được hưởng các Ttiết giảm nhẹ là tự nguyện bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, người bị hại xin giảm nhẹ hính phạt, theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hính sự.

Trên cơ sở đánh giá tình chất vụ án, các Ttiết giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Tuy bị cáo có nhiều Ttiết giảm nhẹ nhưng nhân thân bị cáo đã nhiều lần phạm tội. Mới chấp hành hính phạt tù xong lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Điều đó thể hiện bị cáo chưa có ý thức tu dưỡng rèn luyện bản thân. Ví vậy, cần áp dụng hính phạt tù, đưa bị cáo vào môi trường cải tạo nghiêm khắc theo quy chế trại giam. Mục đìch để trừng trị và giáo dục bị cáo ý thức chấp hành pháp luật. Đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.

Quá trính điều tra bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 23 ngày. Sau đó được thay thế biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. Thời gian tạm giữ, tạm giam sẽ được trừ khi quyết định hính phạt.

Hính phạt bổ sung: Bị cáo D không có tài sản, phạm tội chưa được hưởng lợi gì nên không áp dụng hính phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị trộm cắp đã trả lại đầy đủ cho những người bị hại. Anh Trịnh Viết Kiên, anh Lê Đính Tùng và cháu Trịnh Thị Vân Anh không yêu cầu gí thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với chiếc xe mô tô mô tô Yamaha Sirius, biển kiểm soát 36K5-17951, Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho chị Vinh là phù hợp với quy định của pháp luật.

[6] Về án phì: Bị cáo Nguyễn Kim D bị kết án nên phải chịu án phì hính sự sơ thẩm, theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hính sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kim D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hính sự.

Xử pha ̣t Nguyễn Kim D 09 ( chín ) tháng tù. Được trừ 23 ngày tạm giữ, tạm giam, Nguyễn Kim D phải chấp hành 08 tháng 07 ngày. Thời hạn chấp hành hính phạt tù tình từ ngày bắt thi hành án.

Không áp dụng hính phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản trộm cắp đã trả lại đầy đủ cho những người bị hại.

Về án phì: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hính sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phì và lệ phì Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Kim D phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghín đồng) tiền án phì hính sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, 333 Bộ luật TTHS tuyên bố quyền kháng cáo bản án cho bị cáo trong hạn 15 ngày tình từ ngày tuyên án. Đối với người bị hại vắng mặt, thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày, tình từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Thanh Hoá;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA

- VKSND huyện Yên Định;

- Công an huyện Yên Định;

- Bị cáo; bị hại;

- Chi cục THADS Yên Định;

- Lưu hồ sơ.

Phạm Hữu Thắng

TOA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN YÊN ĐỊNH

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH THANH HÓA Bản án số: ..... /2019/HS-ST

Ngày 25-7-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐI ̣NH, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Việt Hòa, chức vụ: Phó Trưởng phòng Giáo dục huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

2. Bà H Thị Thu, chức vụ: Cán bộ Văn phòng Đảng ủy TT. Quán Lào, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh , Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Đào - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 7 năm 2019 tại Tru ̣ sở Tòa án nhân dân huyê ̣n Yên

Đi ̣nh, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hính sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2019/TLST - HS ngày 07 tháng 6 năm 2019. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2019/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 7 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên : TNT, sinh ngày 25 tháng 9 năm 1995 tại xã QL, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn 5, xã QL, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao đô ̣ng tự do; Trính độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Viê ̣t Nam; Bố đẻ: Trần Quốc Tuấn, sinh năm 1963; Mẹ đẻ: Phạm Thị Lưu, sinh năm 1964; Gia đính bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 4; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: không; Tiền án: 03 tiền án:

- Tại bản án số ......... ngày 27/8/2012, bị Tòa án nhân dân quận Hà Đông, TP. Hà Nội xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng về tội trộm cắp tài sản.

- Tại bản án số ......... ngày 24/12/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 20 tháng tù 27 ngày tù về tội trộm cắp tài sản.

- Tại bản án số ......... ngày 28/9/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/3/2019. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: P Đ D, sinh ngày 10 tháng 9 năm 1994 tại xã CV, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn TY, xã CV, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao đô ̣ng tự do; Trính độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Viê ̣t Nam; Bố đẻ: Phạm Đính Chung (đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Hợp, sinh năm 1975; Gia đính bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo có vợ là Trịnh Thị Duyên và 01 con sinh năm 2015; Tiền án: không; Tiền sự: 01 tiền sự:

Ngày 01/9/2017, bị Công an huyện Yên Định xử phạt vi phạm hành chình về hành vi trộm cắp tài sản. Đến nay chưa chấp hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Về nhân thân: Tại bản án số 15/2013/HSST ngày 28/01/2013, bị Tòa án nhân dân quận Ba Đính, TP. Hà Nội xử phạt 26 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Đến thời điểm phạm tội, bị cáo đã chấp hành xong bản án và đã đương nhiên được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/3/2019, đến ngày 29/3/2019 thí chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Những người bị hại:

1. Bà PTM, sinh năm: 1963

Địa chỉ: Thôn 2, xã QL, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

2. Bà ĐTM, sinh năm: 1954

Địa chỉ: Thôn TM, xã YT, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

- Những người làm chứng:

1. Anh LMN, sinh năm 1983

Địa chỉ: Thôn 2, xã QL, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

2. Anh LHH, sinh năm 1987

Địa chỉ: Thôn 3, xã QL, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

3. Ông LHT, sinh năm 1962

Địa chỉ: Thôn 3, xã QL, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

4. Ông LBT, sinh năm: 1956

Địa chỉ: Thôn TM, xã YT, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

5. Ông LQL, sinh năm: 1960

Địa chỉ: Thôn TM, xã YT, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

6. Anh HCH, sinh năm: 1989

Địa chỉ: Thôn Trâm Lụt, xã CY, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa.

7. Anh LVM, sinh năm: 1990

Địa chỉ: Thôn Co Lê, xã CY, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa.

8. Chị ĐTH, sinh năm: 1991

Địa chỉ: Thôn 4, xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa vắng mặt toàn bộ người bị hại và người làm chứng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 17/01/2019, TNT đến nhà P Đ D đẻ rủ D đi chơi. Khi đến địa phận thôn 2, xã QL, huyện Yên Định, phát hiện thấy gia đính bà PTM khóa cửa cổng, không có người ở nhà, Tnảy sinh ý định và rủ D trèo qua tường rào, đột nhập vào nhà bà Miên trộm cắp gà. Tại đây, D và Tbắt trộm 05 con gà của gia đính bà Miên bỏ vào một chiếc bí có sẵn ở chuồng gà, rồi trèo qua tường rào thoát ra bên ngoài, đem số gà trộm cắp được lên đồi cất giấu. Sau đó cả hai đi bộ đến nhà anh Phạm Văn Thông ở thôn 4, xã QL, Tvào nhà anh Thông mượn xe đạp, rồi cả hai quay lại lấy bí gà trộm cắp đem tiêu thụ. Trên đường Tvà D đem gà đi tiêu thụ bị ông LMN và ông LHH người xã QL phát hiện, đuổi bắt. D bị bắt giữ cùng tang vật trộm cắp đưa đến Công an xã QL giải quyết. Còn Tđạp xe bỏ chạy. Sau đó, Tmang chiếc xe đạp đến trước cổng nhà chị Oanh (hàng xóm của ông Thông) để. Chiếc xe này ông Thông đã lấy đem về nhà. Sau khi biết thông tin Tsử dụng xe để trộm cắp gà, ông Thông đã tự nguyện giao nộp chiếc xe cho Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Định xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản định giá tài sản số ................ ngày ........... của Hội đồng định giá tài sản huyện Yên Định kết luận 05 con gà cua gia đính bà PTM bị Tvà D trộm cắp nêu trên, có tổng khối lượng 13,2kg, tại thời điểm bị chiếm đoạt trị giá là 1.540.000 đồng.

Tiếp đó vào ngày 26/3/2019, tron thời gian đang tại ngoại tại địa phương chờ xử lý việc trộm cắp nêu trên, P Đ D có nhờ HCH, người xã CY, huyện Cẩm Thủy đi xe máy chở sang khu vực gần đê sông Mã, thuộc địa phận huyện Vĩnh Lộc. Tại đây, D có mua của một người phụ nữ tên H, có biệt danh là Ốc (D khai không biết họ tên đầy đủ và địa chỉ của người này) 01 gói ma túy đã với giá 300.000 đồng để sử dụng. Sau khi mua được ma túy, D cất gói ma túy vào túi quần rồi quay lại chỗ H, nhờ H chở về nhà. Trên đường về đến nhà bà ĐTM ở thôn Tu Mục, xã YT, huyện Yên Định, D bảo H dừng xe để D vào nhà bà M bẻ trộm mìa. Khi nhảy qua tường rào, đột nhập vào bên trong nhà bà M, D phát hiện thấy có 01 con chó đang bị xìch trong chuồng bò, nên đã nảy sinh ý định trộm cắp. D lấy 01 cái quốc ở gần đó đập con chó nhưng bị trượt, con chó vùng đứt xìch sủa to lên rồi bỏ chạy. Nghe tiếng chó sủa, bà M đang làm việc ở khu đồng trước nhà chạy về thí thấy D đang nhảy qua tường rào tẩu thoát nên đã hô la mọi người đuổi bắt được D đưa đến Công an xã YT giải quyết. Tại đây, Công an kiểm tra túi quần bên phải phìa trước của D có 01 gói nilon màu trắng, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng (D khai là ma túy đá, D vừa mua đem về nhà để sử dụng). Công an xã YT đã báo cáo Công an huyện Yên Định đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với D về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tại kết luận giám định số .... ngày.... của Phòng Kỹ thuật hính sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận các hạt tinh thể màu trắng thu giữ trong người P Đ D là Methaphetamine, có khối lượng là 0,305 gam.

Tại biên bản định giá tài sản số ............... ngày .............. của Hội đồng định giá tài sản huyện Yên Định kết luận 01 con chó của gia đính bà ĐTM có khối lượng 23kg, trị giá tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.610.000 đồng.

Quá trính điều tra xác M về người có tên H đã bán ma túy cho D tại khu vực đê sông Mã thuộc địa phận huyện Vĩnh Lộc, do D khai không rõ họ tên đầy đủ của người này, Cơ quan điều tra cũng đã tiến hành xác M nhưng không xác định được người phụ nữ này là ai, ở đâu nên không có đủ cơ sở để xử lý người này về hành vi bán trái phép chất ma túy. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xác M, xử lý sau khi có đủ cơ sở.

Đối với HCH là người đã chở D đi mua ma túy, theo D khai việc D mua ma túy sau đó thực hiện hành vi trộm cắp chó nhà bà ĐTM, H không biết. Cơ quan điều tra cũng đã tiến hành xác M, thu thập lời khai của H nhưng H không có mặt tại địa phương, nên không thu thập được. Do vậy chưa có đủ cơ sở để xác định H có biết hay không biết việc D mua và tàng trữ ma túy, cũng như việc D trộm cắp chó của gia đính bà M. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xác M, xử lý sau khi có đủ cơ sở.

Về vật chứng của vụ án:

Cơ quan điều tra đã thu giữ:

- 05 con gà (02 con gà trống, 03 con gà mái) có tổng khối lượng 13,2kg; 01 chiếc bí đựng 05 con gà; 01 chiếc bí xác rắn màu trắng, ký hiệu Kaki CANADA; 01 chiếc xe đạp khung nam, nhãn hiệu Thống Nhất màu xanh, xe đã cũ; 01 chiếc cuốc cán gỗ dài 1,05m, bị gãy làm 03 đoạn, đường kình tiết diện cán 03 cm, lưỡi cuốc bằng kim loại.

- 01 gói nilon màu trắng, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng (kết quả giám định là Methaphetamine); mẫu vật hoàn lại sau giám định là toàn bộ gói mở niêm phong và 0,256 gam các hạt tinh thể màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định. Tất cả được đựng trong 01 phong bí niêm phong mẫu vật do Phòng Kỹ thuật hính sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành được dán kìn, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Lưu Bính Nguyên, Trịnh Ngọc Hanh và các hính dấu của Phòng Kỹ thuật hính sự Công an tỉnh Thanh Hóa.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trính điều tra, những người bị hại đã được nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu các bị cáo bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKSYĐ ngày 05/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh đã truy tố bị cáo TNT về tô ̣i “Trô ̣m cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hính sự ; truy tố bị cáo P Đ D về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 173 và điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hính sự.

Tại phiên tòa các bị cáo TNT, P Đ D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mính và xin giảm nhẹ hính phạt.

Đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hính sự tuyên bố bị cáo TNT phạm tội “Trộm cắp tài sản”; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hính sự tuyên bố P Đ D phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp du ̣ng quy định của pháp luật xử phạt các bị cáo như sau:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luâ ̣t Hinh sự xử pha ̣t TNT từ ...... tháng tù đến ...... tháng tù.

̀

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hính sự xử phạt P Đ D từ ...... tháng tù đến ...... tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trính điều tra, những người bị hại đã được nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật H ính sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hính sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy loại Methamphetamine thu giữ của bị cáo P Đ D; 01 chiếc bí xác rắn màu trắng, ký hiệu Kaki CANADA; 01 chiếc cuốc cán gỗ dài 1,05m, bị gãy làm 03 đoạn, đường kình tiết diện cán 03 cm, lưỡi cuốc bằng kim loại.

Các bị cáo phải chịu tiền án phì hính sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

̀

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐÔNG XÉ T XƢ̉ :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Nhận định về hành vi, quyết định tố tụng:

Quá trính điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Như vậy, hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Định, hành vi của Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, trong quá trính điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trính tự, thủ tục, theo quy định của Bộ luật tố tụng hính sự.

[2] Nhận định về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Thông qua tranh tụng tại phiên toà, các bị cáo TNT và P Đ D hoàn toàn thừa nhận: Ngày 17/01/2019, Tvà D thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản của bà PTM ở thôn 2, xã QL, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, tài sản trộm cắp bao gồm: 05 con gà (02 con gà trống và 03 con gà mái), trị giá là 1.540.000 đồng.

Tiếp đó, ngày 26/3/2019, D có hành vi tàng trữ trái phép 0,305 gam ma túy loại Methaphetamine và trộm cắp 01 con chó của bà ĐTM ở thôn Tu Mục, xã YT, huyện Yên Định, con chó trị giá là 1.610.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà D trộm cắp hai lần là 3.150.000 đồng.

Đối chiếu với lời khai của bị cáo trong hồ sơ vụ án, lời khai của những người bị hại, biên bản phạm tội quả tang, biên bản định giá tài sản, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án thấy hoàn toàn phù hợp. Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ chứng M hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo TNT và hành vi trộm cắp tài sản, tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo P Đ D.

Bị cáo TNT trộm cắp tài sản có giá trị dưới 5.000.000 đồng, nhưng trước đó bị cáo đã 03 lần bị bị kết án về tội trộm cắp tài sản. Hành vi của bị cáo TNT đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Như vậy tội danh chình thức đã được thành lập theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hính sự.

Bị cáo P Đ D trộm cắp tài sản có giá trị dưới 5.000.000 đồng, nhưng trước đó bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chình về hành vi trộm cắp tài sản mà còn vi phạm. Hành vi của bị cáo TNT đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Như vậy tội danh chình thức đã được thành lập theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hính sự. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo P Đ D đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh chình thức đã được thành lập theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hính sự

Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố các bị cáo theo tội danh trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tình chất mức độ nguy hiểm của tội phạm như sau:

Tình chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản của cá nhân, làm mất trật tự trị an địa bàn. Các bị cáo lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Mục đìch là để lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo P Đ D đã xâm phạm trực tiếp chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự xã hội, xâm phạm đến sức khoẻ và sự phát triển giống nòi của dân tộc. Ví vậy, cần có mức hính phạt tương xứng với hành vi phạm tội mới có tác dụng răn đe, đấu tranh phòng chống tội phạm về ma tuý đang diễn ra hết sức phức tạp trên địa bàn hiện nay.

Ví vậy, cần có mức hính phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mới có tác dụng răn đe, đấu tranh phòng chống tội phạm về xâm phạm sở hữu và tội phạm về ma túy đang diễn ra hết sức phức tạp trên địa bàn hiện nay.

[4] Về Ttiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân:

Bị cáo TNT không có Ttiết tăng nặng trách nhiệm hính sự và được hưởng Ttiết giảm nhẹ trách nhiệm hính sự là thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hính sự.

Bị cáo P Đ D phải chịu Ttiết tăng nặng trách nhiệm hính sự là phạm tội từ 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hính. Được hưởng Ttiết giảm nhẹ trách nhiệm hính sự là thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hính sự.

Trên cơ sở đánh giá tình chất vụ án, các Ttiết giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo TNT đã nhiều lần phạm tội. Mới chấp hành hính phạt tù xong lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo P Đ D đã có hành vi trộm cắp tài sản bị xử phạt vi phạm hành chình. Bị cáo chưa chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chình mà lại tiếp tục có hành vi phạm tội trộm cắp tài sản. Điều đó thể hiện các bị cáo chưa có ý thức tu dưỡng rèn luyện bản thân. Vì vậy, cần áp dụng hính phạt tù, đưa các bị cáo vào môi trường cải tạo nghiêm khắc theo quy chế trại giam. Mục đìch để trừng trị và giáo dục các bị cáo ý thức chấp hành pháp luật. Đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.

Hính phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản, phạm tội chưa được hưởng lợi gí nên không áp dụng hính phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị trộm cắp đã trả lại đầy đủ cho những người bị hại. Bà PTM và bà ĐTM không yêu cầu gí thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe đạp khung nam, nhãn hiệu Thống Nhất màu xanh, Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho ông Phạm Văn Thông là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với 01 chiếc bí xác rắn màu trắng, ký hiệu Kaki CANADA và 01 chiếc cuốc cán gỗ dài 1,05m, bị gãy làm 03 đoạn, đường kình tiết diện cán 03 cm, lưỡi cuốc bằng kim loại là công cụ, phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Số mẫu vật hoàn lại sau giám định là toàn bộ gói mở niêm phong và 0,256 gam Methamphetamine được đựng trong 01 phong bí niêm phong mẫu vật do Phòng Kỹ thuật hính sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành được dán kìn, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Lưu Bính Nguyên, Trịnh Ngọc Hanh và các hính dấu của Phòng Kỹ thuật hính sự Công an tỉnh Thanh Hóa là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.

[7] Về án phì: Các bị cáo TNT, P Đ D bị kết án nên phải chịu án phì hính sự sơ thẩm, theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hính sự, tuyên bố bị cáo TNT phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hính sự, tuyên bố bị cáo P Đ D phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luâ ̣t Hinh sự.

̀

Xử pha ̣t TNT .......... tháng tù. Thời hạn chấp hành hính phạt tù tình từ ngày bắt tạm giam 29/3/2019.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hính sự.

Xử pha ̣t P Đ D .......... tháng tù. Thời hạn chấp hành hính phạt tù tình từ ngày tạm giữ 26/3/2019.

Không áp dụng hính phạt bổ sung đối với các bị cáo TNT, P Đ D.

2. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản trộm cắp đã trả lại đầy đủ cho những người bị hại.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hính sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hinh sự.

̀

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc bí xác rắn màu trắng, ký hiệu Kaki CANADA; 01 chiếc cuốc cán gỗ dài 1,05m, bị gãy làm 03 đoạn, đường kình tiết diện cán 03 cm, lưỡi cuốc bằng kim loại; số mẫu vật hoàn lại sau giám định là toàn bộ gói mở niêm phong và 0,256 gam Methamphetamine được đựng trong 01 phong bí niêm phong mẫu vật do Phòng Kỹ thuật hính sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành được dán kìn, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Lưu Bính Nguyên, Trịnh Ngọc Hanh và các hính dấu của Phòng Kỹ thuật hính sự Công an tỉnh Thanh Hóa.

Các vật chứng trên hiện đang được quy trữ tại Chi cục Thi hành án dân sự theo Phiếu nhập kho số .................. ngày.................

4. Về án phì: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hính sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phì và lệ phì Tòa án.

Buộc các bị cáo TNT, P Đ D mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghín đồng) tiền án phì hính sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hính sự, tuyên bố quyền kháng cáo bản án cho bị cáo trong hạn 15 ngày tình từ ngày tuyên án. Đối với người bị hại vắng mặt, thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày, tình từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Thanh Hoá;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA

- VKSND tỉnh Thanh Hóa;

- VKSND huyện Yên Định;

- Công an huyện Yên Định;

- Trại tạm giam Công an Thanh Hóa;

- Bị cáo; bị hại;

- Chi cục THADS Yên Định;

- Lưu hồ sơ.

Phạm Hữu Thắng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA Phạm Viết Nguyên

Nguyễn Thị Thúy Hằng

Phạm Hữu Thắng TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN YÊN ĐỊNH

Độc lập -Tự do - Hạnh phúc TỈNH THANH HOÁ

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HOÁ

Vào hồi 09 h 30 phút ngày 05/6/2019.

Tại phòng nghị án, TAND huyện Yên Định tỉnh Thanh Hóa.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hữu Thắng

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng, chức vụ: Hiệu trưởng Trường THCS Yên Thái, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

2. Ông Phạm Viết Nguyên, chức vụ: Cán bộ Hội Cựu chiến binh huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

Tiến hành nghị án vụ án hính sự sơ thẩm thụ lý số 21/2019/TLST - HS ngày 26 tháng 4 năm 2019.

Họ và tên : Nguyễn Kim D, sinh ngày 05 tháng 7 năm 1987 tại xã Yên Hùng, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn Sơn Cường, xã Yên Hùng, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa;

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hỡnh sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đó được xem xột tại phiờn tũa, kết quả

tranh tụng tại phiờn tũa, cỏc quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU:

1. Vụ án có thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung hay không?

HĐXX thảo luận và thống nhất biểu quyết 3/3 = 100%.

Không thuộc trường hợp tạm đính chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

2. Tính hợp pháp của những chứng cứ tài liệu do cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập, do Luật sư, bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cung cấp.

HĐXX thảo luận: Quá trính điều tra, truy tố, chứng cứ tài liệu của điều tra viên, kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cung cấp là hợp pháp, thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hính sự.

HĐXX thống nhất biểu quyết 3/3 = 100%.

3. Căn cứ kết tội bị cáo.

HĐXX thảo luận: Thông qua tranh tụng tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Kim D hoàn toàn thừa nhận: Vào khoảng 02 giờ ngày 06/02/2019, D thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản của anh Trịnh Viết Kiên 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 và số tiền 1.200.000 đồng của cháu Trịnh Thị Vân Anh (con gái anh Kiên). Sau đó, D tiếp tục thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản của của anh Lê Đính Tùng gồm 01 điện thoại di động Iphone 5s và số tiền 4.430.000 đồng. Tổng giá trị tài sản trộm cắp của hai lần bị cáo trộm cắp là 15.530.000 đồng.

Như vậy, đủ căn cứ kết tội bị cáo về tội: Trộm cắp tài sản theo khoản 1 điều 173 BLHS.

HĐXX thống nhất biểu quyết 3/3 = 100%. Bị cáo phạm tội

4. Hình phạt, trách nhiệm dân sự: HĐXX thảo luận:

Xử pha ̣t Nguyễn Kim D 09 ( chín ) tháng tù. Được trừ 23 ngày tạm giữ, tạm giam Nguyễn Kim D phải chấp hành 08 tháng 07 ngày. Thời hạn chấp hành hính phạt tù tình từ ngày bắt thi hành án.

Không áp dụng hính phạt bổ sung đối với bị cáo

- Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.

HĐXX thảo luận và thống nhất biểu quyết 3/3 = 100% nội dung trên.

5. Bị cáo có thuộc trường hợp miễn TNHS, miễn hình phạt hay không?

HĐXX thống nhất biểu quyết 3/3 = 100%.

Bị cáo không thuộc trường hợp miễn TNHS, miễn hính phạt.

6. Về điều luật áp dụng:

HĐXX thống nhất áp dụng: Áp dụng khoả n 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1,2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hính sự.

Điều 136, Khoản 1 điều 331, 333 Bộ luật TTHS. Điểm a khoản 1 điều 23, Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phì, lệ phì Tòa án. Khoản 1 điều I Mục A của Danh mục án phì, lệ phì Tòa án ban hành kèm theo Nghị Quyết.

HĐXX biểu quyết 3/3 = 100%.

7. Về các vấn đề khác:

HĐXX thảo luận và thống nhất biểu quyết những vấn đề sau:

- Án phí: Buộc bị cáo D phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: HĐXX thống nhất:

Tuyên bố quyền kháng cáo bản án cho bị cáo trong hạn 15 ngày tình từ ngày tuyên án. Đối với người bị hại vắng mặt, thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày, tình từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

HĐXX biểu quyết 3/3 = 100%.

8. Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên, trong quá trình điều tra truy tố xét xử.

Quá trính điều tra, truy tố, hành vi tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hính sự.

HĐXX biểu quyết 3/3 = 100%.

9. Kiến nghị phòng ngừa khắc phục vi phạm: Không

HĐXX biểu quyết 3/3 = 100% tất cả các vấn đề trên, ra bản án và tuyên án

Nghị án kết thúc hồi 11h cùng ngày.

Biên bản lập xong đọc lại cho các thành viên Hội đồng xét xử nghe công nhận là biên bản nghi đúng ý kiến đã thảo luận và thống nhất ký tên.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA Phạm Viết Nguyên

Nguyễn Thị Thúy Hằng

Phạm Hữu Thắng

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ

- TAND tỉnh Thanh Hoá;

THẨM

- VKSND huyện Yên Định;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN

- Công an huyện Yên Định;

TÒA

- Bị cáo; bị hại;

- Chi cục THADS Yên Định;

- Lưu hồ sơ.

Phạm Hữu Thắng

Đối với số tiền 1.200.000 đồng Nguyễn Kim D đã trộm cắp của cháu Trịnh Thị Vân Anh và 4.330.000 đồng đã trộm cắp của anh Lê Đính Tùng, quá trính điều tra, bị cáo khai khi bỏ chạy đã làm rơi xuống mương nước gần nhà bà Nam. Qua lời khai của bị cáo, cơ quan điều tra đã tổ chức truy tím và thu giữ được 325.000 đồng như đã nêu trên, số còn lại không thu giữ được.

Sau khi tiến hành định giá tài sản, xét thấy không ảnh hưởng đến quá trính giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng, trả lại điện thoại di động và chiếc xe mô tô cho chủ sở hữu hợp pháp tài sản là anh Trịnh Viết Kiên, anh Lê Đính Tùng và chị Nguyễn Thị Vinh.

Đối với số tiền 325.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang, quá trính điều tra chứng M đây là tiền của bị cáo do lao động mà có, không liên quan đến vụ án. Số tiền 210.000 đồng thu giữ qua truy tím vật chứng, là tiền bị cáo trộm cắp, quá trình điều tra, gia đính bị cáo đã thay bị cáo bồi thường toàn bộ số tiền bị cáo đã trộm cắp cho những người bị hại, người bị hại đề nghị giao trả lại số tiền trên cho bị cáo. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo Nguyễn Kim D tổng số tiền là 535.000 đồng.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN NÔNG CỐNG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 06 /2019/HSST

Ngày 25 – 02 - 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Thắng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Ngọc Phan

Bà Nguyễn Thị Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Doãn Phương Liên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Anh Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2019 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa mở phiên tòa xét xử công khai vụ án Hính sự sơ thẩm, thụ lý số 14/2019/TLST - HS ngày 31 tháng 01 năm 2019. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2019/TLST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

1. Lê Quốc Hùng, sinh ngày 24 tháng 4 năm 1992. Nơi sinh và trú tại: Thôn Tân Sơn, xã Tân Khang, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trính độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tình: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Đính Long và bà Phạm Thị Nguyệt; Có vợ Đinh Thị Quyên và 03 con; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 20/11/2018 bị Công an huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chình, hính thức: Phạt tiền: 1.500.000đ, về hành vi: “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/11/2018, đến ngày 5/12/2018 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa.

2. Nguyễn Hữu Thành; Sinh ngày 24 tháng 7 năm 1987. Nơi sinh và trú tại: Thôn 3 Tân Cầu, xã Tân Khang, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trính độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tình: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố Nguyễn Hữu Thởn; Mẹ Nguyễn Thị Lan; Gia đính có 4 anh em. Bị cáo là con út trong gia đính; Vợ Ngọ Thị Thắm, sinh năm 1989. Con Nguyễn Thị Thương 2010.

Nhân thân: Năm 2011 bị đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Giáo dục – Lao động xã hội, tỉnh Thanh Hóa. Ngày 07/05/2014 bị Công an xã Tân Thọ, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chình bằng hính thức: Cảnh cáo về hành vi: “Trộm cắp tài sản”; Ngày 10/05/2014 bị Công an xã Tân Khang, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính, hình thức: Phạt tiền về hành vi: “Trộm cắp tài sản”.

Tiền sự: không

Tiền án: có 03 tiền án

Tại bản án số 43/2014/HSST ngày 29/09/2014 TAND huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 25/6/2015.

Tại bản án số 26/2016/HSST ngày 23/05/2016 TAND huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hính phạt tù vào ngày 01/4/2017.

Tại bản án số 41/2017/HSST ngày 26/10/2017 TAND huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 20/10/2018.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/11/2018, đến ngày 5/12/2018 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa.

Những người tham gia tố tụng khác:

- Bị hại: Anh Ngô Đính Phương, sinh năm: 1993 ( Vắng mặt).

Trú tại: Thôn Tân Cầu, xã Tân Khang, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 25/11/2018 Lê Quốc Hùng điều khiển xe mô tô, hiệu Yamaha Jupiter (không biển kiểm soát) tới nhà Nguyễn Hữu Thành chơi. Sau đó Hùng rủ Thành đi tím tài sản trộm cắp, Thành đồng ý. Thành điều khiển xe mô tô chở Hùng ngồi sau. Khi đi qua nhà anh Ngô Đính Phương, Thành thấy nhà anh Phương tắt điện. Đoán biết không có người ở nhà, cả hai nảy sinh ý định đột nhập vào nhà anh Phương để lấy tài sản. Thành nói Hùng quay xe lại và dừng trước nhà anh Phương. Cả hai xuống xe, cùng trèo qua tường rào vào khuôn viên nhà anh Phương thí thấy cửa nhà không khóa nên Hùng, Thành đẩy cửa vào bên trong nhà. Sau đó Thành dùng đèn pin bật sáng (đèn pin do Thành mang đi từ nhà) cùng Hùng tím tài sản. Cả hai trộm cắp những tài sản sau: 01 bếp gas dương, mầu đen đỏ, hiệu Falko; 01 bính gas mầu xanh, hiệu Vạn Lộc Petrol Gas, loại 12kg, trong bính còn chứa một lượng khì gas; 01 nồi cơm điện, hiệu Hasuka; 01 ấm đun nước hiệu HaiPhong; 02 nồi Inox, hiệu Kangaroo; 01 ba lô du lịch, mầu xanh đen, hiệu Sport; 01 ba lô mầu xanh (loại cấp cho quân đội nhân dân Việt Nam); 01 đôi dày nam, hiệu Banama; 01 đôi dày nam hiệu Giầy Việt; 01 quần bò nam, hiệu Levi Strauss mầu xanh đen; 01 quần bò nam, hiệu Louis Vuitton mầu xanh đen; 01 thắt lưng nam hiệu Louis Vuitton mầu đen. Sau khi trộm cắp được số tài sản nêu trên, Hùng và Thành đã dùng xe mô tô chở về trước ngõ nhà Thành rồi chia nhau mang về nhà cất dấu. Trong đó Thành cầm 01 Nồi cơm điện, 02 nồi Inox, 01 ấm đun nước, 02 quần bò và 01 thắng lưng; Hùng mang về nhà 01 bếp gas, 01 bính gas, 02 ba lô, 02 đôi giày.

Vào ngày 26/11/2018 Thành và Hùng đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Nông Cống đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội, đồng thời giao nộp toàn bộ số tài sản mà cả hai trộm cắp được vào ngày 25/11/2018.

Ngày 28/11/2018 Hội đồng định giá tài sản huyện Nông Cống đã tiến hành định giá đối với số tài sản mà Hùng và Thành trộm cắp. Kết luận: Tại thời điểm bị mất trộm, số tài sản trộm cắp có giá trị tổng 3.225.000đ;

Theo báo cáo của anh Ngô Đính Phương, tài sản mà anh bị trộm cắp là: 01 bếp gas dương, mầu đen đỏ, hiệu Falko; 01 bính gas mầu xanh, hiệu Vạn Lộc Petrol Gas, loại 12kg, trong bính còn chứa một lượng khì gas; 01 nồi cơm điện, hiệu Hasuka; 01 ấm đun nước, hiệu Haiphong; 02 nồi Inox, hiệu Kangaroo; 01 ba lô du lịch, mầu xanh đen, hiệu Sport; 01 ba lô mầu xanh (loại cấp cho quân đội nhân dân Việt Nam); 01 đôi dày nam, hiệu Banama; 01 đôi dày nam hiệu Giầy Việt; 01 quần bò nam, hiệu Levi Strauss mầu xanh đen; 01 quần bò nam, hiệu Louis Vuitton mầu xanh đen; 01 thắt lưng nam hiệu Louis Vuitton mầu đen.

Ngày 30/11/2018 cơ quan CSĐT công an huyện Nông Cống ra quyết định xử lý vật chứng đối với số tài sản trên bằng hính thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp. Cùng ngày, anh Phương đã nhận được lại toàn bộ số tài sản trên và không có yêu cầu, đề nghị gí thêm về phần dân sự.

Đối với chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter (không biển kiểm soát) số khung: RLCJ 5B960 9Y059130, số máy: 5B96059125 do Lê Quốc Hùng sử dụng chở Nguyễn Văn Thành đi trộm cắp tài sản. Quá trính điều tra Hùng khai chiếc xe trên là của Lê Quốc Vương (em ruột Hùng) mua ở tỉnh Quảng Ninh vào năm 2014. Khi đi làm ăn xa, Vương đã để lại chiếc xe trên ở nhà để gia đính làm phương tiện đi lại. Đến tối ngày 25/11/2018 Hùng đã sử dụng chiếc xe trên để làm phương tiện trộm cắp tài sản. Quá trính giải quyết vụ án, Cơ quan CSĐT Công an Nông Cống đã triệu tập Lê Quốc Vương để làm việc, xác định nguồn gốc của chiếc xe. Tuy nhiên theo gia đính và chình quyền địa phương báo cáo: Vương đi đâu, làm gí thí gia đính và chình quyền địa phương không biết, không thể liên lạc được với Vương từ lâu. Cơ quan điều tra đã lập biên bản xác M sự vắng mặt của Vương. Theo kết quả trả lời của Phòng cảnh sát giao thông và Phòng cảnh sát truy nã tội phạm, Công an tỉnh Thanh Hóa về thông tin chủ sở hữu của chiếc xe trên, kết quả trả lời: Hiện tại không xác định được thông tin về chủ sở hữu. Hiện chiếc xe mô tô trên được bảo quản tại Kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nông Cống để chờ xử lý theo quy định.

Đối với chiếc đèn pin do Thành sử dụng để thực hiện việc trộm cắp tài sản, theo Thành khai báo: đây là chiếc đèn pin mầu đen, đường kình 02cm, dài khoảng 10cm, ánh sáng đèn Led màu trắng đã qua sử dụng, sau khi trộm cắp được tài sản trên đường đi về nhà, Thành làm rơi chiếc đèn trên ở đâu không rõ. Vào ngày 01/12/2018 Cơ quan CSĐT Công an Nông Cống đã tiến hành truy tím nhưng chưa có kết quả.

Bản cáo trạng số 03/CT-VKSNC ngày 14/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân (Sau đây viết tắt là VKSND) huyện Nông Cống truy tố Lê Quốc Hùng về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hính sự (sau đây viết tắt là BLHS). Truy tố Nguyễn Hữu Thành về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g, khoản 2 Điều 173 Bộ luật hính sự.

Tại phiên toà công khai các bị cáo không yêu cầu trợ giúp pháp lý, thừa nhận hành vi phạm tội của mính và xin giảm nhẹ hính phạt.

Đại diện VKS luận tội giữ nguyên quyết định truy tố. Căn cứ Điều 173 BLHS đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Lê Quốc Hùng và Nguyễn Hữu Thành phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị HĐXX áp dụng: Khoản 1 Điều 173 điểm i; s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 BLHS, xử phạt bị cáo Lê Quốc Hùng từ 9 tháng đến 12 tháng tù. Áp dụng điểm g, khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Thành từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Trách nhiệm dân sự: Tài sản trộm cắp đã trả lại cho người bị hại đầy đủ. Về vật chứng: Chiếc xe mô tô Yamaha Jupiter (không biển kiểm soát) số khung: RLCJ 5B960 9Y059130, số máy: 5B96059125 tịch thu sung quỹ nhà nước. Bị cáo thuộc hộ nghèo nên không phải chịu tiền án phì hính sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Nhận định về hành vi, quyết định tố tụng:

Quá trính điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Như vậy, hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nông Cống, hành vi của Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của VKSND huyện Nông Cống, trong quá trính điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trính tự, thủ tục, theo quy định của Bộ luật tố tụng hính sự.

[2] Nhận định về hành vi phạm tội của bị cáo:

Thông qua tranh tụng tại phiên toà, bị cáo Lê Quốc Hùng và Nguyễn Hữu Thành hoàn toàn thừa nhận: Vào tối ngày 25/11/2018 Hùng và Thành đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của gia đính anh Ngô Đính Phương, sinh năm 1992 ở thôn Tân Cầu, xã Tân Khang, huyện Nông Cống. Tài sản trộm cắp bao gồm: 01 bếp gas, hiệu Falko; 01 bính gas12kg, hiệu Vạn Lộc Petrol Gas; 01 nồi cơm điện, hiệu Hasuka; 01 ấm đun nước, hiệu Haiphong; 02 nồi Inox, hiệu Kangaroo; 02 ba lô du lịch; 02 đôi dày nam; 02 quần bò nam; 01 thắt lưng nam hiệu Louis Vuitton. Tổng giá trị tài sản trộm cắp đã được định giá là 3.225.000 đồng. .

Đối chiếu với lời khai của bị cáo trong hồ sơ vụ án, lời khai của người bị hại, biên bản định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án thấy hoàn toàn phù hợp. Như vậy, HĐXX xét thấy có đủ căn cứ chứng M hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo Lê Quốc Hùng và Nguyễn Hữu Thành. Hành vi đó đủ yếu tố cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản”. Như vậy, tội danh chình thức đã được thành lập theo khoản 1 và khoản 2 điều 173 BLHS. VKSND huyện Nông Cống truy tố bị cáo theo tội danh trên, đề nghị HĐXX áp dụng các điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tình chất mức độ nguy hiểm của tội phạm như sau:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản của cá nhân, làm mất trật tự trị an địa bàn. Các bị cáo lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Ví vậy, cần xử lý nghiêm bằng pháp luật hính sự nhằm giáo dục bị cáo và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Đánh giá tình chất đồng phạm là giản đơn, bị cáo Hùng là người chủ mưu, là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo Thành là người thực hiện hành vị trộm cắp. Như vậy, vai trò của bị cáo Hùng cao hơn bị cáo Thành.

[4] Về Ttiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân:

Đối với bị cáo Hùng: Không phải chịu Ttiết tăng nặng trách nhiệm hính sự. Được hưởng Ttiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ìt nghiêm trọng, người phạm tội thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 điều 51BLHS. Bị cáo Hùng bị xử lý hành chình về hành vi trộm cắp tài sản.

Đối với bị cáo Thành: Không phải chịu Ttiết tăng nặng trách nhiệm hính sự. Được hưởng Ttiết giảm nhẹ người phạm tội thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 điều 51BLHS. Về nhân thân bị cáo Thành có 3 tiền án chưa được xóa án tìch.

Trên cơ sở đánh giá tình chất vụ án, các Ttiết giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo, HĐXX xét thấy: Bị cáo Hùng tuy có 2 Ttiết giảm nhẹ nhưng trước đó bị cáo đã bị xử phạt hành chình về hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo Thành đã 3 lần bị kết án, phạm tội lần này thuộc trường hợp Ttiết định khung tái phạm nguy hiểm. Trên cơ sở đánh giá tình chất vụ án, các Ttiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, HĐXX xét thấy các bị cáo là người nghiện ma túy, Bị cáo Thành mới vừa chấp hành án phạt tù xong, lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Điều đó thể hiện bị cáo không có ý thức tu dưỡng rèn luyện bản thân. Ví vậy cần áp dụng hính phạt nghiêm khắc, đưa các bị cáo vào môi trường cải tạo theo quy chế trại giam, để trừng trị và giáo dục bị cáo ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung

Hính phạt bổ sung: Các bị cáo thuộc hộ nghèo nên không áp dụng hính phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã trả lại đầy đủ cho người bị hại. Anh Ngô Đính Phương không yêu cầu gí thêm nên HĐXX không xem xét.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter (không biển kiểm soát) số khung: RLCJ 5B960 9Y059130, số máy: 5B96059125 do Lê Quốc Hùng sử dụng chở Nguyễn Văn Thành đi trộm cắp tài sản. Quá trính điều tra và tại phiên tòa Hùng không xuất trính được giấy tờ chứng M quyền sở hữu và biển kiểm soát. Xác định đây là tài sản do Hùng quản lý làm phương tiện phạm tội, nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

[6] Về án phì: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phì hính sự sơ thẩm. Tuy nhiên các bị cáo thuộc hộ nghèo thuộc đối tượng được miễn tiền án phì theo quy định của pháp luật.

Ví các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Lê Quốc Hùng và Nguyễn Hữu Thành phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 BLHS.

Xử phạt: Lê Quốc Hùng 10 ( mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.Thời hạn chấp hành hính phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 26/11/2018.

- Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 BLHS.

Xử phạt Nguyễn Hữu Thành 30 ( ba mươi) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.Thời hạn chấp hành hính phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 26/11/2018.

Miễn hính phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã trả lại đầy đủ cho người bị hại.

Vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hính sự.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter (không biển kiểm soát) số khung: RLCJ 5B960 9Y059130, số máy: 5B96059125.

Về án phì: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phì và lệ phì Tòa án; Danh mục mức án phì, lệ phì Tòa án ban hành kèm theo nghị quyết:

Miễn tiền án phì hính sự sơ thẩm cho bị cáo Hùng và Thành.

Quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, 333 BLTTHS tuyên bố quyền kháng cáo bản án cho bị cáo, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người bị hại vắng mặt, thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày, tình từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÕA

- Bị hại;

- VKSND huyện Nông Cống;

- Công an huyện Nông Cống;

- TAND Tỉnh Thanh Hoá;

- Chi cục THADS huyện Nông Cống;

- Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;

- Lưu: hồ sơ;

- Lưu: VT. L(14) .

Phạm Hữu Thắng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Ngọc Phan

Nguyễn Thị Anh

Phạm Hữu Thắng Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÕA

- Bị hại;

- VKSND huyện Nông Cống;

- Công an huyện Nông Cống;

- TAND Tỉnh Thanh Hoá;

- Chi cục THADS huyện Nông Cống;

- Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;

- Lưu: hồ sơ;

- Lưu: VT. S(14) .

Phạm Hữu Thắng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA Lê Thị Dệt

Nguyễn Thị Anh

Phạm Hữu Thắng

Các Ttiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị can:

Bị can Lê Quốc Hùng: không phải chịu Ttiết tăng nặng trách nhiệm hính sự. Các Ttiết giảm nhẹ trách nhiệm: Quá trính điều tra, truy tố đã thành khẩn khai báo; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ìt nghiêm trọng;

Bị can Nguyễn Hữu Thành: không phải chịu Ttiết tăng nặng trách nhiệm hính sự nào. Ttiết giảm nhẹ trách nhiệm: thành khẩn khai báo; Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÕA

- Bị hại;

- VKSND huyện Nông Cống;

- Công an huyện Nông Cống;

- TAND Tỉnh Thanh Hoá;

- Chi cục THADS huyện Nông Cống;

- Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;

- Lưu: hồ sơ;

- Lưu: VT. S(14) .

Phạm Hữu Thắng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA Nguyễn Văn Lợi

Phạm Thị Dệt

Phạm Hữu Thắng

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15h ngày 22/10/2018, Nguyễn Thanh Lâm điều khiển xe mô tô hiệu SYM, loại xe Attila Victori màu trắng đen BKS 36R7 - 4979 đi từ huyện Quảng Xương vào huyện Nông Cống, mục đìch để trộm cắp tài sản. Khi đi ngang qua quán tạp hóa nhà chị Lê Thị Hiền tại thôn 7, xã Tế Thắng, huyện Nông Cống, Nguyễn Thanh Lâm thấy quán không có người trông coi nên đi vào bên trong quán. Quan sát xung quanh thấy có ngăn kéo không khóa nên tiến lại gần mở ngăn kéo lấy hết số thẻ cào bên trong, bao gồm các loại thẻ cào Viettel, Vinaphone, Mobiphone với các mệnh giá khác nhau chưa qua sử dụng sau đó bỏ vào túi quần thì bị cháu Lê Thị Trang (con gái chị Hiền) phát hiện, hô hoán. Nguyễn Thanh Lâm bỏ chạy thì bị người dân phối hợp cùng tồ công tác tuần tra của Công an huyện Nông Cống bắt và lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ 126 thè cào Vietel có mệnh giá 20.000 đồng; 40 thẻ cào Vietel có mệnh giá 50.000 đồng; 12 thẻ cào Vietel có mệnh giá 100.000 đồng; 38 thẻ cào Vinaphone có mệnh giá 20.000 dồng; 08 thẻ cào Vinaphone có mệnh giá 50.000 đồng; 05 thẻ cào Vinaphone có mệnh giá 100.000 đồng; 57 thẻ cào Mobiphone có mệnh giá 20.000 đồng; 22 thẻ cào Mobiphone có mệnh giá 50.000 đồng: 04 thẻ cào Mobiphone có mệnh giá 100.000 đồng tất cả đều chưa qua sử dụng.

Ngày 22/10/2018, bị hại chị Lê Thị Hiền báo cáo: Chị bị trộm cắp số tài sản gồm 126 thè cào Vietel có mệnh giá 20.000 đồng; 40 thẻ cào Vietel có mệnh giá 50.000 đồng; 12 thẻ cào Vietel có mệnh giá 100.000 đồng; 38 thẻ cào Vinaphone có mệnh giá 20.000 dồng; 08 thẻ cào Vinaphone có mệnh giá 50.000 đồng; 05 thẻ cào Vinaphone có mệnh giá 100.000 đồng; 57 thẻ cào Mobiphone có mệnh giá 20.000 đồng; 22 thẻ cào Mobiphone có mệnh giá 50.000 đồng: 04 thẻ cào Mobiphone có mệnh giá 100.000 đồng tất cả đều chưa qua sử dụng.

Theo kết luận định giá tài sản số 62/ĐGTS ngày 23/10/2018 của HĐ định giá tài sản huyện Nông Cống, kết luận:

+ 126 thẻ cào Vietel có mệnh giá 20.000 đồng, chưa qua sử dụng, chưa bị cào mã số thẻ vào thời điểm bị trộm cắp trên thị trường có giá 2.520.000 đồng.

+ 40 thẻ cào Vietel có mệnh giá 50.000 đồng, chưa qua sử dụng, chưa bị cào mã số thẻ vảo thời điểm bị trộm cắp trên thị trường có giá 2.000.000 đồng.

+ 12 thẻ cảo Vietel có mệnh giá 100.000 đồng, chưa qua sử dụng, chưa bị cào mã số thẻ vào thời điểm bị trộm cắp trên thị trường có giá 1.200.000 đồng.

+ 38 thẻ cào Vinaphone có mệnh giá 20.000 đồng, chưa qua sử dụng, chưa bị cào mã số thẻ vào thời điểm bị trộm cắp trên thị trường có giá 760.000 đồng.

+ 08 thẻ cào Vinaphone có mệnh giá 50.000 đồng, chưa qua sử dụng, chưa bị cào mã số thẻ vào thời điểm bị trộm cắp trên thị trường có giá 400.000 đồng.

+ 05 thẻ cào Vinaphone có mệnh giá 100.000 đồng, chưa qua sử dụng, chưa bị cào mã số thẻ vào thời điểm bị trộm cắp trên thị trường có giá 500.000 đồng.

+ 57 thẻ cào Mobiphone có mệnh giá 20.000 đồng, chưa qua sử dụng, chưa bị cào mã số thẻ vào thời điểm bị trộm cắp trên thị trường có giá 1.140.000 đồng.

+ 22 thẻ cào Mobiphone có mệnh giá 50.000 đồng, chưa qua sử dụng, chưa bị cào mã số thẻ vào thời điểm bị trộm cắp trên thị trường có giá 1.100.000 đồng.

+ 04 thẻ cào Mobiphone có mệnh giá 100.000 đồng, chưa qua sử dụng, chưa bị cào mã số thẻ vào thời điểm bị trộm cắp trên thị trường có giá 400.000 đồng.

Số thẻ cào trên tại thời điểm định giá có tổng trị giá 10.020.000 đồng.

Ngày 25/10/2018 chị Hiền đã có đơn xin nhận lại số tài sản bị trộm cắp là toàn bộ các thẻ cào nêu trên. Cơ quan CSĐT Công an huyện Nông cống đã tiến hành giao trả lại tài sản cho chủ sở hữu là chị Lê Thị Hiền.

Đối với chiếc xe mô tô hiệu SYM, loại xe Attila Victori màu trắng đen BKS 36R – 4979 mà Nguyễn Thanh Lâm sử dụng, Nguyễn Thanh Lâm khai là xe do Lâm mượn của một người tên Long ở xã Quảng Tân, huyện Quảng Xương, khi Long cho Lâm mượn xe Long không biết gí về việc Lâm mượn xe để sử dụng vào mục đìch phạm tội. Cơ quan CSĐT Công an huyện Nông cống đã tiến hành xác M tại xã Quảng Tân, huyện Quảng Xương không có người nào tên Long có mối quan hệ với Nguyễn Thanh Lâm mà cư trú, sinh sống trên địa bàn xã Quảng Tân. Tiến hành tra cứu, xác M về chiếc xe mô tô hiệu SYM, loại xe Attila Victori màu trắng đen BKS 36R7 - 4979 là xe của chị Lường Thị Luật, trú tại Hoằng Lưu, Hoằng Hóa, Thanh Hóa nhưng vào tháng 12/2017 chị Luật đã bán xe trên cho anh Nguyễn Văn Thắng, sinh năm 1993 ở thôn 6, xã Hoằng Thành, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình xác M hiện anh Thắng không có mặt tại địa phương. Hiện vật chứng là chiếc xe mô tô hiệu SYM, loại xe Attila Victoria màu trắng đen BKS 36R7 - 4979 vẫn chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan CSĐT chưa có cơ sở để xử lý.

* Về yêu cầu bồi thường dân sự:

Người bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Bản cáo trạng số 03/CT-VKSNC ngày 14/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân (Sau đây viết tắt là VKSND) huyện Nông Cống truy tố bị cáo Nguyễn Thanh Lâm về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hính sự (sau đây viết tắt là BLHS).

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1, Điều 52 BLHS đề xuất mức hính phạt đối với bị cáo Lâm từ.............đến..............tháng tù …………..Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điểu tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu nên không xét. Bị cáo phải chịu án phì hính sự sơ thẩm.

- Bị cáo Lâm khai nhận hành vi của mính hối hận, hứa sửa chữa không tái phạm, xin được giảm nhẹ hính phạt ……………

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thấy hành vi của mính là trái quy định của pháp luật hối hận, xin lỗi bị hại, xin được giảm nhẹ hính phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nông Cống, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, Kiểm sát viên trong quá trính điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trính tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hính sự. Quá trính điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ được trong quá trính điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ cơ sở chứng M: Vào 15h ngày 22/10/2018 Nguyễn Thanh Lâm điều khiển xe mô tô BKS 36R7 - 4979 từ huyện Quảng Xương vào huyện Nông Cống mục đìch đi trộm cắp tài sản. Khi đi đến quán tạp hóa nhà chị Lê Thị Hiền thuộc thôn 7, xã Tế Thắng, huyện Nông Cống thấy quán không có người trông coi nên đã đi vào quán và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 126 thè cào Vietel có mệnh giá 20.000 đồng; 40 thẻ cào Vietel có mệnh giá 50.000 đồng; 12 thẻ cào Vietel có mệnh giá 100.000 đồng; 38 thẻ cào Vinaphone có mệnh giá 20.000 dồng; 08 thẻ cào Vinaphone có mệnh giá 50.000 đồng; 05 thẻ cào Vinaphone có mệnh giá 100.000 đồng; 57 thẻ cào Mobiphone có mệnh giá 20.000 đồng; 22 thẻ cào Mobiphone có mệnh giá 50.000 đồng: 04 thẻ cào Mobiphone có mệnh giá 100.000 đồng đều chưa qua sử dụng có tổng giá trị là 10.020.000 đồng. Sau khi Nguyễn Thanh Lâm thực hiện xong hành vi trộm cắp đã bị chủ nhà phát hiện, truy hô và được quần chúng nhân dân phối hợp với tổ tuần tra Công an huyện Nông Cống bắt giữ và lập biên bản phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật. Tài sản trộm cắp có giá trị trên 2.000.000đ và dưới 50.000.000đ nên hành vi nêu trên của Nguyễn Thanh Lâm đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Thanh Lâm về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS là đúng người, đúng tội, phù hợp quy định pháp luật.

[3] Đánh giá tình chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản của người khác, làm mất trật tự trị an địa bàn. Lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Vì vậy, cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo, phòng ngừa chung và để ổn định địa bàn.

[4] Về Ttiết tăng nặng, giảm nhẹ: Có 01 Ttiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khaonr 1 Điều 52 BLHS, có 01 Ttiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 46 BLHS.

[5] Trên cơ sở đánh giá tình chất vụ án, các Ttiết giảm nhẹ của bị cáo xét thấy ..............................................................

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Thị Hiền đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gí thêm. Ví vậy, ghi nhận bị cáo Nguyễn Thanh Lâm đã thực hiện xong nghĩa vụ dân sự.

[7] Về vật chứng vụ án: 01 xe moto nhãn hiệu SYM, loại ATILA VICTORIA, màu sơn: Trắng - Xám, biển kiểm soát; 36R7-4979 ( đặc điểm chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Nông Cống và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nông Cống ngày 17/12/2018)………………………….

[8] Về án phì: Bị cáo có tội, bị kết án nên phải chịu án phì hính sự sơ thẩm.

Ví các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Lâm phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h, khoản 1 Điều 52 ........................ BLHS;

Xử phạt Nguyễn Thanh Lâm ..........................................................

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo Nguyễn Thanh Lâm đã thực hiện xong nghĩa vụ dân sự.

Về vật chứng:………………………………………………………………

Về án phì: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phì, lệ phì Tòa án; Danh mục án phì, lệ phì Tòa án ban hành kèm theo nghị quyết: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Chuyên phải nộp 200.000đ tiền án phì hính sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thí người phải Thi hành án dân sự có quyền tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Dệt

Nguyễn Thị Anh

Phạm Hữu Thắng Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÕA

- Bị hại; Người liên quan

- VKSND huyện Nông Cống;

- Công an huyện Nông Cống;

- TAND Tỉnh Thanh Hoá;

- Chi cục THADS huyện Nông Cống;

- Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;

- Lưu: hồ sơ;

- Lưu: VP. L (14) .

Phạm Hữu Thắng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đức Cƣờng

Phạm Thị Hằng

Phạm Hữu Thắng Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÕA

- Bị hại;

- VKSND huyện Nông Cống;

- Công an huyện Nông Cống;

- TAND Tỉnh Thanh Hoá;

- Chi cục THADS huyện Nông Cống;

- Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;

- Lưu: hồ sơ;

- Lưu: VT. Ha (14) .

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA Lê Đức Cƣờng Phạm Thị Hằng

Phạm Hữu Thắng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

Lê M Trí

Đỗ Ngọc Phan

Phạm Hữu Thắng

Cỡ chữ