- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Tâm T phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Tâm T.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH _______________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2019/HS-PT Ngày: 10 - 6 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành
Các Thẩm phán:
Ông Trịnh Minh Tự
Ông Ngô Đê
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm An Bình, Thư ký tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh, Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 10 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2019/HSPT ngày 17/5/2019 đối với bị cáo Trần Tâm T. Do có kháng cáo của bị cáo Trần Tâm T đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2019/HSST, ngày 12/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Trần Tâm T, sinh năm 1987 tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú: Khóm 2, thị trấn C, huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Tâm T1 sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị Hoàng M sinh năm 1968; có vợ là chị Lâm Thị Kiều H đã ly hôn và có một người con sinh năm 2015; Tiền án: Không, tiền sự: Không; Nhân thân: tốt; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/9/2018 cho đến nay. (bị cáo có mặt)
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo khác, người bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng nghị và không liên quan đến kháng cáo nên không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ ngày 01/7/2018 bị cáo Nguyễn Ngọc K đi bộ đến quán nước của bà Nguyễn Thị Hoàng M tại khóm 2, thị trấn C để uống cà phê. Khoảng 30 phút sau, bị cáo Trần Tâm T đến và ngồi uống cà phê ở bàn khác đối diện với bàn của bị cáo K. Uống nước được một lúc, bị cáo K đến chỗ bị cáo T ngồi để hỏi lấy số tiền 200.000 đồng do bị cáo T mượn trước đó nhưng bị cáo T không trả và xảy ra cự cãi với nhau. Ngay lúc đó, bị cáo K cầm cái ly thủy tinh có quai để trên bàn định đánh bị cáo T nhưng được ông Phan Thành B, đang ngồi gần đó chụp được tay bị cáo K và lấy được cái ly, lúc đó bị cáo T dùng tay phải đánh vào vùng mặt bị cáo K 02 cái nhưng không có gây thương tích. Sau đó, bị cáo K và bị cáo T được bà M, ông B và Nguyễn Hoàng T can ra nên bị cáo T đi về nhà bà ngoại của bị cáo là Lê Thị Hoa L ngụ cùng khóm.
Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, bị cáo K đi về nhà ngang nhà bà Lê Thị Hoa L thì bị cáo đến trước cửa rào nhà ông Nguyễn Bảo K, kế bên nhà bà L lấy 01 (một) cây chĩa dừa có gắn một đoạn kim loại sắc nhọn, đến cửa rào kêu bị cáo T ra nói chuyện nhưng bị cáo T không ra, bị cáo K dùng cây chĩa dừa đập cửa rào, làm phần đầu tre gắn với phần mũi chĩa bị tét. Sau đó, bị cáo T trong nhà nghe bị cáo K đập cửa rào nên lấy 01 (một) cây dao, loại dao yếm, ra mở cửa rào đến đứng đối diện với bị cáo K. Lúc đó, bị cáo K thấy bị cáo T cầm dao trên tay nên bị cáo K lấy cây chĩa dừa đánh trúng vào cẳng tay trái của bị cáo T 01 cái và tiếp tục dùng cây chĩa dừa đâm trúng vào cẳng tay trái của bị cáo T 01 cái, lúc đó phần kim loại của cây chĩa dừa bị văng ra. Đồng thời, bị cáo T dùng tay trái chụp được cây chĩa dừa của bị cáo K và cầm dao trên tay phải chém trúng một cái vào cổ tay bàn tay trái của bị cáo K, rồi bị cáo T quay lưng bỏ chạy vào nhà thì bị cáo K tiếp tục cầm cây chĩa dừa đánh vào phần lưng bị cáo T khoảng 01 đến 02 cái nhưng không có thương tích. Khi bị cáo T vào bên trong đóng cửa rào lại thì bị cáo K cầm cây chĩa dừa chọc vào cửa rào nhưng không trúng bị cáo T. Sau đó, bị cáo K được Nguyễn Hoàng T đến đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa khu vực Tiểu Cần và chuyển đến Bệnh viện đa khoa Trà Vinh điều trị, đến ngày 04/7/2018 thì xuất viện về nhà. Riêng bị cáo T chỉ bị thương tích ở phần cẳng tay trái, tự băng bó vết thương và không có đến cơ sở y tế để điều trị.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 107/TgT ngày 05/9/2018 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế Trà Vinh kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể từng thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Ngọc K tổng tỷ lệ chung 31% theo nguyên tắc cộng lùi.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 130/TgT ngày 11/10/2018 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế Trà Vinh kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể từng thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Trần Tâm T: Hai sẹo nhỏ vùng 1/3 trên sau cẳng tay trái, tỷ lệ 02%.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2019/HSST, ngày 12 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện T đã quyết định:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Tâm T và bị cáo Nguyễn Ngọc K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Tâm T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26 tháng 9 năm 2018.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt của bị cáo K, xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 19 tháng 4 năm 2019, bị cáo Trần Tâm T kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Tâm T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm thể hiện là đúng. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Căn cứ vào các T liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa hôm nay, có đủ cơ sở kết luận, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Tâm T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; mức hình phạt 03 năm tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tải liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo là trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Tâm T, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 12 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo thừa nhận đã dùng dao yếm chém vào tay của bị cáo K gây tổng thương tích 31% cho bị cáo K. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 là chính xác, đúng pháp luật.
Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 03 năm tù là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, đã xem xét toàn diện, khách quan các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo đối với xã hội, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, hình phạt trên là không nặng nhưng đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương trong việc kiên quyết phòng chống loại tội phạm này. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới do đó không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Đề nghị của Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Án phí: Bị cáo Trần Tâm T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Tâm T.
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2019/HSST, ngày 12 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Tâm T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 xử phạt bị cáo Trần Tâm T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26 tháng 9 năm 2018.
Án phí: Bị cáo Trần Tâm T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC Hà Nội; - VKSND tỉnh Trà Vinh; - Sở tư pháp tỉnh Trà Vinh; - TAND huyện T; - Chi cục THA huyện T; - CA huyện T; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Nguyễn Văn Thành |