vanban.org

Bản án 33/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 và Điều 266

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Hiếu T - Trần Thanh P"
  • Tòa quyết gì? 39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 và Điều 266
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 33/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 17-7-2019
Về việc “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Vương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Tư

2. Ông Nguyễn Sơn Trường

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện

H, tỉnh Long An.

Ngày 17 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ

thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 54/2019/TLST-HNGĐ ngày

14 tháng 3 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét

xử số: 29/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hiếu T - Sinh năm 1983 - Địa chỉ: ấp 4, xã Mỹ

Quý Tây, huyện H, tỉnh Long An (Vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Trần Thanh P - Sinh năm 1980 - Địa chỉ: ấp 4, xã Mỹ Quý

Tây, huyện H, tỉnh Long An (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 3 năm 2019, các văn bản tiếp theo,

nguyên đơn bà Nguyễn Hiếu T trình bày và yêu cầu: Bà và ông Trần Thanh P cưới

nhau năm 2009, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Hiệp Hòa, huyện Đức

Hòa, tỉnh Long An ngày 07-5-2012; Chung sống hạnh phúc đến tháng 10 năm 2012

phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông P không lo làm

ăn, cờ bạc, rượu chè và có quan hệ với phụ nữ khác;

Về hôn nhân: Bà yêu cầu ly hôn với ông Trần Thanh P;

Về nuôi con chung: Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung là Trần Thanh

TN, sinh ngày 02-7-2010 và Trần GP, sinh ngày 05-4-2016 (đang sống chung với bà

và ông P), bà không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 23-5-2019, bà Nguyễn Hiếu T có đơn xin xét xử vắng mặt;

Bị đơn là ông Trần Thanh P vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý

do, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Nguyễn Hiếu T khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Trần Thanh P, Tòa án

nhân dân huyện H tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà T có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử xét đơn khởi kiện của

bà T theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Trong thời gian Tòa án thụ lý vụ án, bị đơn ông Trần Thanh P được niêm

yết hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án, nhưng không có ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của ông, không có mặt để tham gia hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử xét đơn khởi kiện của bà T theo quy định tại khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, ông P không được quyền khiếu nại về việc cung cấp chứng cứ, tham gia hòa giải và tham gia phiên tòa, vì ông không có mặt theo thông báo và giấy triệu tập của Tòa án, không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự theo quy định pháp luật.

Nguyên đơn không có đơn rút yêu cầu khởi kiện, các đương sự không

thỏa thuận được với nhau việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.

Xét về hôn nhân:

Bà T và ông P chung sống có đăng ký kết hôn ngày 07-5-2012 tại Ủy

ban nhân dân thị trấn Hiệp Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông P là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của bà T: Bà T không đưa ra được tài liệu, chứng cứ

chứng minh cho trình bày và yêu cầu của bà là có căn cứ và hợp pháp. Xét bà T và ông P xảy ra mâu thuẫn từ tháng 10 năm 2012 đến nay (theo trình bày của bà T), tuy còn sống chung nhà, nhưng ông P không có biện pháp hữu hiệu để khắc phục mâu thuẫn vợ chồng, mâu thuẫn còn nên bà T xin ly hôn. Xét mâu thuẫn giữa bà T và ông P đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc bà T yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên chấp nhận. Ông P không có ý kiến nên không có căn cứ xem xét.

Về nuôi con chung:

Bà T trình bày và yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung là Trần Thanh

TN, sinh ngày 02-7-2010 và Trần GP, sinh ngày 05-4-2016, các con chung đang sống

chung với bà T và ông P. Bà T không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh

cho yêu cầu của bà là có căn cứ và hợp pháp. Tuy nhiên, xét con chung tên Nguyên

nguyện vọng muốn sống với bà T, con chung tên Phát còn nhỏ, để bà T chăm sóc sẽ

thuận tiện, đảm bảo sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của con chung, chấp

nhận để bà T được trực tiếp nuôi 02 con chung là phù hợp theo quy định tại Điều

81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Ông P không có ý kiến về nuôi con chung,

nên không có căn cứ xem xét.

Hai con chung đang sống chung với bà T và ông P, nên cần buộc ông P

có nghĩa vụ giao 02 con chung cho bà T trực tiếp nuôi kể từ khi án có hiệu lực pháp

luật là phù hợp.

Bà T không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện, phù hợp

quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên ghi nhận.

Ông P được quyền thăm nom, chăm sóc con chung; Khi cần thiết, vì P

ích của con chung, bà T và ông P được quyền yêu cầu thay đổi trình trạng nuôi con

chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp theo quy định tại các Điều 83,

84, 107 và 110 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về chia tài sản chung và nợ chung: Bà T trình bày không có, không yêu

cầu Tòa án giải quyết, ông P không có ý kiến, nên không đề cập giải quyết; Nếu xảy

ra tranh chấp, đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định của

pháp luật tố tụng dân sự.

Về án phí dân sự sơ thẩm, căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ

Quốc hội, xét thấy: Bà T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000

đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí

dân sự sơ thẩm đã nộp, bà T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm; Ông P không phải

chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều

39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 và Điều 266

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 Luật Hôn

nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016

của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản

lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Hiếu T được ly hôn với ông Trần Thanh P.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Bà Nguyễn Hiếu T được trực tiếp nuôi 02 con chung là Trần Thanh TN,

sinh ngày 02-7-2010 và Trần GP, sinh ngày 05-4-2016, các con chung đang sống chung với bà T và ông P; Ông P có nghĩa vụ giao 02 con chung cho bà T trực tiếp nuôi kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2.2. Ghi nhận sự tự nguyện của đương sự: Ông Trần Thanh P không phải cấp

dưỡng nuôi con chung.

2.3. Ông P được quyền thăm nom, chăm sóc con chung; Khi cần thiết, vì lợi

ích của con chung, bà T và ông P được quyền yêu cầu thay đổi trình trạng nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

3. Về chia tài sản chung và nợ chung: Đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ

án khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Hiếu T phải chịu 300.000 đồng (Ba

trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp (Biên lai thu số 0004450 ngày 14-3-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H), bà T đã nộp đủ án phí.

5. Các đương sự vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc

thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ