vanban.org

Bản án 33/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 17/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phàng Lao C phạm tội trộm cắp tài sản.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc hòm tôn sắt cũ kích thước 60 x 30 x 30cm, tại khuy khóa hòm có vết móp, bẹp, hằn kích thước 1,5 x 1,5cm và bị đứt rời; 01 chiếc hòm tôn sắt cũ kích thước 60 x 30 x 30cm, tại nắp hòm bên phải bị cậy kênh một b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phang Lao C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phàng Lao C phạm tội trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2018/HS-ST
Ngày 17 tháng 4 năm 2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Ngọc Hà.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thái và bà Nguyễn Thị Huyền.

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Hoàng Văn Dũng - thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Châu.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Phương Thủy, Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 34/2018/TLST ngày 15/3/2018 đối với bị cáo sau:

Phàng Lao C, sinh năm 1984, nơi ĐKHKTT: Bản P, xã C, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, trình độ văn hoá lớp 3/12, nghề nghiệp trồng trọt. Dân tộc Mông. Quốc tịch Việt Nam. Tôn giáo không; Con ông Phàng Lao T (đã chết) và bà Thào Thị B, sinh năm 1954; chưa có vợ con; Tiền sự: Không; Tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 56/2006/HSST ngày 24/11/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt Phàng Lao C 15 năm tù về tội vận chuyển trái phép chất ma túy (chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2016); Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2018 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Lìa Thị C1, sinh năm 1977. Địa chỉ: Bản Pa, xã C, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 29/12/2017, Công an huyện Yên Châu nhận được đơn đề nghị Lìa Thị C1, trú tại bản P, xã C, huyện Yên Châu với nội dung: Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 29/12/2017 gia đình Lìa Thị C1 bị kẻ gian trộm cắp tài sản (tiền) khoảng 10.000.000 đồng. Quá trình điều tra chứng minh được ngày 26/12/2017, C1 đi nương hái rau, C ở nhà một mình nên nảy sinh ý định lấy trộm số tiền của C1 đang cất giữ trong hòm ở buồng ngủ. C vào buồng ngủ mở một chiếc hòm không khóa ra kiểm tra nhưng không thấy tiền, Chìa đến đầu giường ngủ lật đệm tìm chìa khóa nhưng không thấy nên C xuống bếp lấy một chiếc kìm màu đen dài khoảng 20cm bằng sắt rồi quay lại buồng ngủ đến vị trí hai chiếc hòm tôn có khóa cạnh giường ngủ, C dùng kìm phá chiếc hòm thứ nhất nhưng không thấy tiền, sau đó phá chiếc hòm thứ hai và thò tay vào trong hòm lấy được số tiền 8.000.000 đồng để trong hòm. Sau đó C đặt lại hai chiếc hòm về vị trí ban đầu, còn chiếc kìm ném dưới gầm tủ trong buồng ngủ, sau đó cầm tiền xuống bếp lấy 2.000.000 đồng cất giấu trong túi quần để chi tiêu cá nhân, 6.000.000 đồng còn lại C cất giấu trong hộp gỗ cạnh cửa bếp.

Ngày 04/01/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La triệu tập Phàng Lao C đến làm việc, quá trình làm việc C khai thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của bản thân và tự giác giao nộp số tiền 6.000.000 đồng cất giấu tại hòm gỗ cạnh cửa bếp.

Tại bản kết luận giám định số 71/KL, ngày 11/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: 60 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng là tiền thật.

Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 14 tháng 3 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu đã truy tố Phàng Lao C về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu trình bày lời luận tội vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo Phàng Lao C theo tội danh và điều luật đã nêu trong cáo trạng. Đồng thời phân tích những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm s, t khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phàng Lao C từ 12 tháng đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 02 chiếc hòm tôn sắt cũ; 01 chiếc kìm kim loại, chuôi cầm màu đỏ đen, kích thước 20cm (không còn giá trị sử dụng) của Lìa Thị C1.

Tạm giữ 01 chiếc điện thoại Iphone 4 màu đen, viền màu bạc bên trong có số thuê bao 0165938086, máy cũ đã qua sử dụng của bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận người bị hại Lìa Thị C1 không yêu cầu bị cáo Phàng Lao C bồi thường khoản tiền 2.000.000 đồng.

Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Trong lời nói sau cùng bị cáo Phàng Lao C tỏ thái độ ăn năn về hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng hình sự: Các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án; quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố là đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về căn cứ buộc tội: Lời khai nhận của bị cáo Phàng Lao C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của người bị hại và vật chứng thu giữ được. Từ đó, có đủ cơ sở chứng minh vào ngày 26/12/2017, lợi dụng sở hở trong quản lý tài sản của chị Lìa Thị C1, C dùng kìm mở hòm tôn lấy được số tiền 8.000.000 đồng để chi tiêu cá nhân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu truy tố bị cáo Phàng Lao C theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

. Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án số 56/2006/HSST ngày 24/11/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt Phàng Lao C 15 năm tù về tội vận chuyển trái phép chất ma túy, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt vào ngày 29/4/2016, đến lần phạm này chưa được xóa án tích nên vi phạm tình tiết tăng năng quy định tại điểm h “tái phạm” khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, sau khi sự việc bị phát hiện bị cáo đã tự nguyện sửa chữa lỗi lầm, bồi thường giao lại số tiền 6.000.000 đồng cho cơ quan điều tra để khắc phục hậu quả đối với người bị hại, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng…”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo làm nghề trồng trọt, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng, vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng:

Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại tài sản cho người bị hại Lìa Thị C1 số tiền 6.000.000 đồng . Xét thấy tài sản thuộc sở hữu của người bị hại, việc Cơ quan điều tra đã trả lại số tiền trên là có căn cứ pháp luật, cần chấp nhận.

- Đối với 02 chiếc hòm tôn sắt cũ; 01 chiếc kìm kim loại cũ thu giữ của chị Lìa Thị C1, nhưng tại phiên tòa chị C1 không yêu cầu trả lại mà đề nghị tiêu hủy, xét tài sản không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 4 màu đen, máy cũ đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo. Xét thấy là tài sản của bị cáo và không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 2.000.000 đồng, xét thỏa thuận trên là hoàn toàn tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật, cần chấp nhận.

. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phàng Lao C phạm tội trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phàng Lao C 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 04/01/2018.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc hòm tôn sắt cũ kích thước 60 x 30 x 30cm, tại khuy khóa hòm có vết móp, bẹp, hằn kích thước 1,5 x 1,5cm và bị đứt rời; 01 chiếc hòm tôn sắt cũ kích thước 60 x 30 x 30cm, tại nắp hòm bên phải bị cậy kênh một bên kích thước 10cm; 01 chiếc kìm kim loại, chuôi cầm màu đỏ đen, kích thước 20cm.

Trả lại cho bị cáo Phàng Lao C: 01 chiếc điện thoại Iphone 4 màu đen, viền màu bạc bên trong có thuê bao 01659386086, mặt sau có ký hiệu số A1332 CMIIT ID: 2010C J3612 máy cũ đã qua sử dụng.

* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584; Điều 585 Bộ luật dân sự: Chấp nhận người bị hại Lìa Thị C1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào.

* Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Phàng Lao C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo, người hại biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17/4/2018).

Cỡ chữ