- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Huỳnh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC TRỌNG, TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 33/2018/HSST Ngày: 03/05/2018 |
HUYỆN ĐỨC TRỌNG Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC TRỌNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sinh Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Ngọc Anh Ông Nguyễn Đức Thọ - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Trọng tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Lương Hùng Khánh- Kiểm sát viên. Trong ngày 03 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2018/HSST ngày 27 tháng 3 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2018/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo: Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 1994 (Tên gọi khác: Ku). Nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố Thăng Long –thị trấn N – huyện L – tỉnh L; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 08/12; Con ông Nguyễn H (Chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1974; Anh chị em ruột: có 02 người, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất là bị cáo; Vợ: Không; Con: Không; Tiền Án- Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/11/2017 cho đến ngày ra Tòa (Có mặt tại phiên tòa). -Người làm chứng : Ông K’ Br, sinh năm 1955; Nơi cư trú: Thôn Đ- xã N’ T - huyện Đ- tỉnh L. (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 01giờ 00 phút, ngày 23/11/2017 lực lượng Công an huyện Đ tiến hành kiểm tra hành chính đối với bị cáo Nguyễn Văn H trước cổng Nhà nghỉ Thái Hà
thuộc thôn Đ – xã N’Th – huyện Đ – tỉnh L thì phát hiện bị cáo H lấy 01 gói bao thuốc SEVEN trong túi quần Jeen mình đang mặt trên người ném ngay xuống đết dưới chân để phi tang. Qua kiểm tra bên trong gói thuốc SEVEN có chứa 01(Một) gói nylon chứa bên trong chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Kiểm tra trên người của H phát hiện trong túi quần Jeen bên phải H đang mặt trên người có 02(hai) gói nylon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy nên Công an huyện Đ đã lập Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn H và lập biên bản niêm phong 03 gói chất nghi là ma túy gửi giám định. Tại cơ quan điều tra H khai nhận vào ngày tối 22/11/2017, H đến ngã ba Từ Liêm – thị trấn N – huyện L – tỉnh L mua của một người đàn ông tên là Bằng (chưa rõ nhân thân lai lịch) 01 gói ma túy đá với giá 14.700.000đồng(mười bốn triệu bảy trăm ngàn đồng) để sử dụng dần cho bản thân, khi đến nhà nghỉ Thái Hà thì bị phát hiện bắt giữ. Tại Kết luận giám định số 263/GĐ-PC54, ngày 24/11/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Phong bì 01: Mẫu tinh thể đựng trong 02 gói ny lon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,4232g, loại Methamphetamine, Phong bì 02: Mẫu tinh thể đựng trong 01 gói ny lon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 19,5847g, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma tuy nằm trong Danh mục II, STT: 67, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/07/2013 của Chính phủ(BL:BL: 24). Như vậy, tổng khối lượng ma túy thu giữ được của bị cáo Nguyễn Văn H là 20,0079g (Hai mươi phẩy không không bảy chín gam) loại Methamphetamine. Trong quá trình đấu tranh khai thác bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận số ma tuý trên là do bị cáo mua vào khoảng 23 giờ ngày 22/11/2017 ở khu vực Ngã ba Từ Liêm - thị trấn N- huyện L- tỉnh L của nam thanh niên tên Bằng để mục đích về sử dụng cho bản thân bị cáo. Toàn bộ tang vật thu giữ trong vụ án gồm: 01 phong bì niêm phong số 623/2018 “Bao gói” có dóng dấu của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng, 01 phong bì niêm phong số 623/2018 “Hoàn mẫu” có dóng dấu của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng, 01 Điện thoại di động hiệu Nokia màu đen có bàn phím đã qua sử dụng và 01 chiếc kéo bằng kim loại màu trắng. Hiện các vật chứng trên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Trọng đã chuyển giao cho Cơ quan thi hành án dân sự huyện Đ chờ xử lý. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã phân tích, chứng minh hành vi phạm tội và đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo H và vẫn giữ nguyên bản Cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 27/3/2018 truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo nên đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo H theo quy
định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015. Do bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 07 năm tù đến 08 năm tù. Về xử lý vật chứng đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật. Ý kiến của bị cáo Nguyễn Văn H, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Trọng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở hồ sơ vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Trọng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Trọng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp. [2] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như hành vi mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Trọng đã truy tố theo nội dung Bản Cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 27/3/2018 truy tố bị cáo Nguyễn văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Vào khoảng 01giờ 00 phút, ngày 23/11/2017 bị cáo Nguyễn văn H có hành vi “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Qua kiểm tra bên trong gói thuốc SEVEN có chứa 01(Một) gói nylon chứa bên trong chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy, kiểm tra trên người của bị cáo H phát hiện trong túi quần Jeen bên phải mà H đang mặt trên người có 02(hai) gói nylon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Tại Kết luận giám định số 263/GĐ-PC54, ngày 24/11/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Phong bì 01: Mẫu tinh thể đụng trong 02 gói ny lon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,4232g, loại Methamphetamine; Phong bì 02: Mẫu tinh thể đụng trong 01 gói ny lon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 19,5847g, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng ma túy thu giữ được của bị cáo Nguyễn Văn H là 20,0079g(hai mươi phẩy không không bảy chín gam) loại Methamphetamine. Hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung bản cáo trạng, lời khai tại phiên tòa và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo Huỳnh thực hiện: Bị cáo Huỳnh là người có đầy đủ năng lực pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an tại địa phương. Vì vậy hành vi của bị cáo là hành vi phạm tội nên cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật. [4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo H. Khi lượng hình cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo H vì quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015. [5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. [6] Về xử lý vật chứng: Tang vật của vụ án gồm: 01 phong bì niêm phong số 623/2018 “Bao gói” có dóng dấu của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng, 01 phong bì niêm phong số 623/2018 “Hoàn mẫu” có dóng dấu của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, và 01 chiếc kéo bằng kim loại màu trắng xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp theo quy định điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Đối với 01 Điện thoại di động hiệu Nokia màu đen có bàn phím đã qua sử dụng không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo H căn cứ khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Đối với đối tượng là người thanh niên tên Bằng khoảng 25 tuổi, da trắng, cao khoảng 1,7m, nói giọng miền Bắc, dáng người trung bình là người bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Văn H. Cơ quan điều tra chưa xác minh được nhân thân lai lịch nên tách ra để xử lý sau theo quy định. [7] Từ những phân tích nhận định trên nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo H ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo Huỳnh có điều kiện rèn luyện, cải tạo mình trở thành một công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội, góp phần phòng ngừa chung trong xã hội. Về án phí: Bị cáo Huỳnh phải chịu án 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm s khoản Điều 51, điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 07(Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 23/11/2017. Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 623/2018 “Bao gói” có dóng dấu của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 623/2018 “Hoàn mẫu” có dóng dấu của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng và tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kéo bằng kim loại màu trắng. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 trả lại cho bị cáo H 01 Điện thoại di động hiệu Nokia màu đen có bàn phím đã qua sử dụng. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/3/2018. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm./.
Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Đức Trọng; - Công an huyện Đức Trọng; - Sở tư pháp; - Chi cục THADS huyện Đức Trọng; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Bộ phận THA phạt tù; - Lưu HS,AV. Nguyễn Thị Sinh CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa [7] Từ những phân tích nhận định trên nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo Huỳnh ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo Huỳnh có điều kiện rèn luyện, cải tạo mình trở thành một công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội, góp phần phòng ngừa chung trong xã hội. Về án phí: Bị cáo Huỳnh phải chịu án 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Vì các lẽ trên; QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ vào điểm s khoản Điều 51, điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Huỳnh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Huỳnh 07(Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 23/11/2017. Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 623/2018 “Bao gói” có dóng dấu của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 623/2018 “Hoàn mẫu” có dóng dấu của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng và tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kéo bằng kim loại màu trắng. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 trả lại cho bị cáo Huỳnh 01 Điện thoại di động hiệu Nokia màu đen có bàn phím đã qua sử dụng. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/3/2018. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Huỳnh phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm./. THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |