vanban.org

Bản án 33/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 15/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trầ n Nguyên V phạm tội “Vi phạ m quy đị nh về điề u khiể n phương tiệ n giao thông đườ ng bộ ''.

Trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điề u 584; khoản 1 Điề u 585; khoản 1 Điề u 586; Điề u 590; 591 và Điều 601 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Ghi nhận sự tự thỏa thuận của bị cáo và các bị hại tại phiên tòa, bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho ông Bùi Quốc V, bà Ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo V - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trầ n Nguyên V phạm tội “Vi phạ m quy đị nh về điề u khiể n phương tiệ n giao thông đườ ng bộ ''.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 41 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2018/HS-ST.
Ngày: 15-5-2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Thanh Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Tư

Bà Nguyễ n Thị Lệ Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễ n An Phướ c - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễ n Thị Hồ ng Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2018 tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân thành phố V mở phiên tò a xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2018/TLST-HS, ngày 06 tháng 4 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2018/QĐXXST-HS, ngày 27 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:

Trầ n Nguyên V, sinh năm 1983 tại Vĩnh Long; nơi cư trú: đườ ng H, Phườ ng P, thành phố V , tỉnh Vĩnh Long ; nghề nghiệp: Làm thuê ; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việ t nam; con ông Trầ n Văn P và bà Nguyễ n Thị N; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không có; tiền sự: Không có ; nhân thân: Tố t; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú , bị cáo có mặt.

- Bị hại: Bùi Quốc D (chế t).

Ngườ i đạ i diệ n theo phá p luậ t cho bị hạ i D: Ông Bù i Quố c V, bà Phạm Thị T (Cha, Mẹ ruột bị hại D), nơi cư trú : đườ ng Trương Công Đ, Phườ ng 2, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, bà T có mặt, ông V vắ ng mặ t.

- Bị hại: Ông Bù i Quố c V và bà Phạm Thị T , cùng nơi ở hiện nay: Ấp 2, xã An T, huyệ n B, tỉnh Tiền Giang, ông V vắ ng mặ t, bà T.

Ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Nguyễ n Thị N, nơi cư trú: đườ ng Đinh H, Phườ ng P, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long, có mặt.

- Ông Phạ m Đứ c T, nơi cư trú : Ấp 2, xã T, huyệ n B, tỉnh Tiền Giang, có mặt.

- Bà Đặng Kim L , nơi cư trú : Khóm A, Phườ ng 9, thành phố V , tỉnh Vĩnh Long, vắ ng mặ t

Người làm chứng:

Ông Nguyễ n Thà nh H, nơi cư trú: ấp L, xã T, huyệ n B, tỉnh Vĩnh Long, vắ ng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngà y 30/5/2017, Trầ n Nguyên V có uố ng rượ u cù ng vớ i anh T (không rõ họ , tên đị a chỉ ) tại xã H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. Đế n 20 giờ cùng ngày V điều khiển xe môtô biể n kiể m soá t số 64B1-635 đi trên đườ ng Quố c lộ 1 để về nhà tại đường Đinh H, Phườ ng P, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long, khi chạ y qua Cổ ng chà o thà nh ph ố V hướ ng về cầ u C thì V không làm chủ được ta y lái để xe đâm sang trá i đườ ng đụ ng và o xe môtô biể n kiể m soá t số 63B1-336 do anh Bù i Quố c V điề u khiể n chở vợ ngồ i sau là chị Phạ m Thị T cù ng ngườ i con là chá u Bù i Quố c D đang đứ ng ở giữ a anh V và chị T , tai nạ n xã y ra tấ t cả đượ c đưa đế n Bệ nh việ n đa khoa tỉnh Vĩnh Long cấp cứu , do chấ n thương nặ ng nên Bù i Quố c D đượ c đưa đế n Bệ nh việ n đa khoa Trung ương Cầ n Thơ điề u trị đến ngày 31/5/2017 thì cháu D tử vong , chị T bị thương nặng nên chuyển đến Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình Thành phố Hồ Chí Minh đề u trị đến ngày 05/6/2017 đượ c xuấ t việ n , Trầ n Nguyên V bị thương nặ ng đượ c chuy ển đến Bệnh viện đa khoa Tru ng ương Cầ n Thơ điề u trị đế n ngà y 13/6/2017 thì được xuất viện.

Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 96/2017/TTh ngà y 07/6/2017 của Trung tâm phá p y Sở y tế Vĩ nh Long kế t luậ n , nguyên nhân tử vong củ a Bù i Quố c D là do chấ n thương sọ nã o.

Kế t luậ n giám định thương tích số: 06/2018/TgT ngà y 12/01/2018 của Trung tâm phá p y Sở y tế Vĩ nh Long kế t luậ n, thương tí ch củ a Phạ m Thị T , gãy hở 1/3 giữ a xương đù i phải, tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra hiệ n tạ i là 25%, Bùi Quốc V từ chối giám định thương tích.

Hiệ n trườ ng vụ tạ i nạ n đượ c xá c đị nh tạ i dố c cầ u C , mặ t đườ ng chia thà nh hai chiề u xe chạ y bằ ng vạ ch kẻ mà u trắ ng rộ ng 10cm, đoạ n đư ờng hơi cong và nghiên sang trá i theo hướ ng cầ u C về vò ng x uyế n N, mặ t đườ ng bằ ng bêtông , tầ m nhìn không bị che khuất , mỗ i chiề u xe chạ y chia thà nh hai là n đườ ng rộ ng 3,55m, xác định mốc nơi xãy ra tại nạn là trụ đèn số 08, lề chuẩ n là lề bên phải theo hướng cầ u Cvề hướ ng vò ng xuyế n N.

Vùng va chạ m nằ m trên mặ t đườ ng bên phả i theo hướ ng đi từ cầ u C đế n

vòng xuyến N, cách mét đường bên phải là 4,91m, vùng va chạ m đế n đầ u v ết cà y xe môtô biể n kiể m soá t số 63B1-336 là 0,90m, vùng va chạm đến đầu v ết cà y xe mô tô 64B1-635 là 2,22m, vùng va chạm đến điểm mốc (trụ đèn số 8) là 7,90m.

Khám nghiệm phươ ng tiệ n xe môtô biể n kiể m soá t số 64B1-635, ghi đông bên phả i bị cong hướ ng từ trướ c về p hía sau, từ trên xuố ng dướ i , ốp nhựa tay cầm bên phả i bị rơi mấ t, ốp nhựa phía trước ghi đông bị bể hoà n toà n, chắ n bù n trướ c bị bể hoà n toà n , giảm sốc trước bên phải bị cong về sau so vớ i trụ cố đị nh , đè n tí n hiệ u trước và đèn chiếu sáng bị rơi khỏi vị trí cố định , chắn gió bên phả i bị bể , ốp nhự a thân xe phí a dướ i ghi đông bị bể , chân phanh bị cong từ trướ c về sau từ dướ i lên trên, cao su bị mà i mò n , ống xả khói bị móp trầy sướt k im loạ i có kí ch thướ c 7x4cm, trụ bắt gá c chân sau bên phả i bị gã y.

Khám nghiệm phươ ng tiệ n xe môtô biể n kiể m soá t số 63B1-336, gương chiế u hậ u bên phả i bị rơi , đầu trục bắt gương chiếu hậu bên phải bị mài mòn , đầ u tay cầ m bên phả i bị cong hướ ng từ trướ c về sau và chóc sơn, tay thắ ng bị gã y, ghi đong bên phả i bị cong từ trướ c về sau , ốp nhựa phía trên ghi đông bị gãy , bể trầ y sướ t, ốp nhựa đèn chiếu sáng bị bể kích thuớc 14 x 9cm, ốp nhựa đèn tí n hiệ u trướ c bên phả i bị bể có kí ch thướ c 14 x 9cm, bử ng chắ n gió bên phả i bị bể có kí ch thướ c 6 x 3cm, lóc máy bên phải bị mài mòn kim loại hướng từ trước về sau có kích thướ c 10 x 5cm, thanh kim loạ i c ong trầ y ló c máy bị gãy rời , chân phanh bị cong hướ ng từ trướ c về sau , đầ u chân phanh bị mà i mò n kim loạ i , gác chân trước kim loại bị cong từ trước về sáu, ốp nhựa thân xe bên phải bị bun hở, cầ n đạ p số bị cong về sau trầ y sướ t kim loạ i, gác chân sau bên phả i bị cong từ trướ c về sau , ống xả khói bị mốp và trầy sướt.

Qua xá c đị nh lỗ i đã xá c đị nh , lỗ i hoà n toà n thuộ c về Trầ n Nguyên V điề u khiể n xe không đi bên phả i theo chiề u đi củ a mì nh , vi phạ m khoả n 1 Điề u 9 Luậ t giao thông đườ ng bộ , điề u khiể n xe trong má u có nồ ng độ cồ n vượ t quá 50miligam/100mililít máu, vi phạ m khoả n 8 Điề u 8 Luậ t giao thông đườ ng bộ .

Trách nhiệm dân sự: Các bị hại yêu cầu V bồi thường các khoản tổng cộ ng là 316.500.000 đồ ng, gia đì nh V đã thỏ a thuậ n bồ i thườ ng trướ c 17.000.000 đồ ng, còn lại tiếp tục yêu cầu V bồi thường.

Xe môtô biể n kiể m soá t số 63B1-336 là của anh Phạm Đức T cho Bùi Quốc V mượ n đi chơi, anh T đã nhậ n lạ i xe tự sử a chữ a không yêu cầ u bị cá o bồ i thườ ng, xe môtô biể n kiể m soá t số 64B1-635 là của V mua lại chưa sang tên , xe không tham gia bả o hiể m.

Tại bản cáo trạng số: 21/CT-VKS, ngày 23/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V truy tố bị cáo Trầ n Nguyên V về tội “Vi phạ m quy đị nh về điề u khiể n phương tiệ n giao thông đườ ng bộ '' theo điểm b khoản 2 Điều 202 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sử a đổ i bổ sung năm 2009.

Sau khi bị cá o nghe Kiể m sá t viên đọ c xong Cá o tr ạng bị cáo không có ý kiến gì và đồng ý với nội dung Cá o trạ ng mà Việ n kiể m sá t nhân dân thành phố V đã truy tố đố i vớ i bị cá o về tội “Vi phạ m quy đị nh về điề u khiể n phương tiệ n giao thông đườ ng bộ ”.

Bị hại (bà T cũng là đại cho bị hại (cháu D) tại phiên tòa có ý kiến yêu cầu bị cáo tiế p tụ c bồi hoàn số tiền 299.500.000 đồng cho cá c khoả n bị thiệt hại, ông V vắ ng mặ t.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà N trì nh bà y đồ ng ý cho bị cá o số tiề n 17.000.000 đồ ng, không yêu cầ u bị cá o phả i hoà n lạ i , ông T trình bày đã nhận lại xe không yêu cầu bị cáo bồi hoàn tiền sửa xe.

Sau khi nghe lờ i trì nh bà y củ a bị cá o , bị hại và người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa . Quan điể m củ a Kiể m sá t viên tạ i phiên tò a là giữ nguyên quan điể m truy tố bị cá o theo Cá o trạ ng số : 21/CT-VKS, ngày 23/3/2018 mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố V tố bị cáo Trầ n Nguyên V về tội “Vi phạ m quy đị nh về điề u khiể n phương tiệ n g iao thông đườ ng bộ '' theo điểm b khoản 2 Điều 202 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sử a đổ i bổ sug năm 2009.

Khi luận tội xong, Kiể m sá t viên đề nghị phạt bị cáo từ 03 năm đế n 03 năm 06 tháng tù theo tộ i danh, điề u luậ t mà Cá o trạ ng đã truy tố đối với bị cáo , về phầ n dân sự Kiể m sá t viên đề nghị ghi nhận sự tự thỏa thuận của bị cáo và bị hại tại phiên tòa, về vật chứng đề nghị trả cho bị cáo một giấy phép lái xe và một xe môtô , nhưng tạ m quả n lý xe môtô để đảm bả o việ c thi hà nh á n.

Bị cáo, bị hại (bà T và người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan (bà N) không có ý kiến tham gia tranh luận. Ông T thì ý kiến đề nghị bị cáo có trách nhiệm bồi hoàn thiệt hại liền chứ không trả từ từ như bị cá o đề nghị.

Kế t thú c phầ n tranh luậ n, bị cáo nói lời sau cùng: “Bị cáo đã nhận thức được hành vi của bị cáo là sai trái, bị cáo rất ăn năn, bị cáo xin lỗi bị hại và xin nhậ n hình phạt do phá p luậ t quy đị nh”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng: Tại phiên tòa, bị cáo và bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

[2] Theo quy định tại điể m b khoản 2 Điều 202 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sử a đổ i bổ sung năm 2009“2. Phạm tội thuộc trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm”:

“b) Trong tì nh trạ ng có sử dụ ng rượ u , bia mà trong máu hoặ c hơi thở có nồ ng độ cồ n vượ t quá mứ c quy đị nh hoặ c có sử dụ ng cá c chấ t kí ch thí ch mạ nh khác mà pháp luật cấ m sử dụ ng”; tại khoản 8 Điề u 8 của Luật Giao thông đườ ng bộ quy đị nh “Điề u khiể n xe môtô , xe gắ n má y mà trong má u có nồng độ cồ n vượ t quá 50miligam/100mililít máu hoặc 0,25miligam/1 lít khí thở ”. Tại kết quả xét nghiệ m ngà y 30/5/2017 thì trong máu của bị cáo V có nồng độ cồn 172miligam/100mililít máu, vì lẻ đó mà bị cáo không làm chủ được tai lái để xe lấ n sang lề trá i gây ra tai nạ n (vi phạ m khoản 1 Điề u 9 của Luậ t Giao thông đườ ng bộ ). Từ hành vi và hậu quả mà bị cáo V gây ra đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạ m quy đị nh về điề u khiể n phương tiệ n giao thông đườ ng bộ ” theo quy định tại điể m b khoản 2 Điều 202 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sử a đổ i bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo , lời nhận tội của bị cáo đã phù hợp với các chứ ng cứ thu thậ p đượ c trong quá trì nh điề u tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và hiện trường vụ án . Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V tố bị cáo Trầ n Nguyên V về tội “Vi phạ m quy đị nh về điề u khiể n phương tiệ n giao thông đườ ng bộ '' theo điểm b khoản 2 Điều 202 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sử a đổ bổ sung năm 2009 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị cáo tham gia giao thông, điề u khiể n xe môtô là nguồ n nguy hiể m cao độ mà không chấ p hà nh Luậ t Giao thông đườ ng bộ để xảy ra tai nạ n, xâm hạ i đế n sứ c khỏ e, tính mạng của người khác, bị cáo ý thức đượ c hành vi nêu trên là vi phạm pháp luật, nhưng do bị cáo uố ng quá nhiề u rượ u khi điề u khiể n phương tiệ n giao thông, không làm chủ được tai lá i, nên hậu quả xãy ra, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự , nên bị cáo phải chịu hình phạt do hành vi của bị cáo đã gây ra. Xét thấy, hành vi của bị cáo cần phải xử phạt nghiê m, nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội và góp phần ổn định tình hình trật tự an toàn giao thông tại địa phương, cầ n phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định theo quy đị nh tạ i Điề u 33 của Bộ luậ t Hì nh sự năm 1999, sử a đổ bổ sung năm 2009để cho bị cá o có thờ i gian họ c tậ p , cải tạo và trở thành người công dân có ích cho xã hộ i sau nà y. Theo quy đị nh tạ i điể m b khoả n 2 Điề u 260 của Bộ luật Hình sự n ăm 2015 (sử a đổ i năm 2017) thì điều luật quy định không có lợi cho bị cáo , nên á p dụng Nghị quyết số : 41/2017/QH14, ngày 20/6/2017 của Quốc hội để xét xử bị cáo theo điề u luậ t của Bộ luật Hình sự năm 1999 mà Cáo trạng của Việ n kiể m sá t nhân dân thà nh phố V truy tố đối với bị cáo là hợp lý.

Xét về nhân thân củ a bị cá o, bị cáo có nhân thân tố t, bị cáo không có tiền án, không có tiền sự, khi phạ m tộ i trong quá trình điều tra cũ ng như tạ i phiên tòa bị cáo đã thậ t thà khai bá o , ăn năn hối cải, bị cáo cùng gia đình khắc phục một phần hậ u quả cho bị hại, phạm tội lần đầu , gia đì nh có ngườ i thân tham gia Cá ch mạ ng , có bà Nội đượ c phong tặ ng Bà m ẹ Việt Nam anh hù ng . Nên có căn cứ cho bị cá o hưở ng các tì nh tiế t giả m nhẹ trá ch nhiệ m hì nh sự quy đị nh tạ i điể m b , p khoả n 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sử a đổ i bổ sung năm 2009.

Từ nhữ ng căn cứ nêu trên , xét thấy Kiể m sá t viên đề nghị mứ c hình phạt cho bị cá o từ 03 năm đế n 03 năm 06 tháng tù theo tộ i danh, điề u luậ t mà Cá o trạ ng đã truy tố đối với bị cáo là có cơ sở , nên Hội đồng xét xử chấ p nhậ n và sẽ xem xét , quyế t đị nh á p dụ ng hì nh phạ t cụ thể cho bị cá o tro ng phầ n hì nh phạ t . Đồng thời việ c đề nghị củ a Kiể m sá t viên về phầ n dân sự và xử lý vật chứng là phù hợ p , nên Hộ i đồ ng xé t xử chấ p nhậ n.

Về trá ch nhiệ m dân sự , tại phiên tòa, bị cáo và bị hại tự thỏa thuận, bị cáo bồ i thườ ng cho cá c bị hạ i số tiề n 316.500.000 đồ ng, trừ lạ i số tiề n 17.000.000 đồ ng đã bồ i hoà n trướ c đó , việ c thỏ a thuậ n không trá i phá p luậ t , không trá i đạ o đứ c xã hộ i, đú ng vớ i quy đị nh tạ i khoả n 1 Điề u 584; khoản 1 Điề u 585; khoản 1 Điề u 586; Điề u 590; 591 và Điều 601 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nên đượ c chấ p nhậ n.

Về vật chứng, hiện nay Cơ quan điều tra có giữ 01 giấ y phé p lá i xe và mộ t xe môtô biể n kiể m soá t số 64B1-635 của bị cáo, đây là tài sản của bị cáo, mặ c dù tại phiên tòa bị có không yêu cầu nhận lại xe môtô, nhưng vẫ n phả i trả lại cho bị cáo theo quy đị nh tạ i khoả n 1 Điề u 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sử a đổ i bổ sung năm 2009 và điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tuy nhiên, cầ n tiế p tụ c quả n lý xe môtô để đảm bảo việc thi hành án.

Bị cáo còn phải nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiề n 200.000 đồ ng và số tiề n á n phí dân sự sơ thẩ m , theo quy định tại điể m a, điểm c khoả n 1 Điề u 23 Nghị quyế t số : 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hộ i; khoản 2 Điề u 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luậ t Tố tụ ng hì nh sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trầ n Nguyên V phạm tội “Vi phạ m quy đị nh về điề u khiể n phương tiệ n giao thông đườ ng bộ ''.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điề u 33 của Bộ luật Hình sự năm 1999; xử phạt bị cáo Trầ n Nguyên V - 03 (ba) năm tù . Thờ i hạn chấ p hà nh hì nh phạ t tù được tí nh từ ngà y bắ t bị cá o thi hà nh á n.

2. Trách nhiệm dân sự:

Áp dụng khoản 1 Điề u 584; khoản 1 Điề u 585; khoản 1 Điề u 586; Điề u 590; 591 và Điều 601 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Ghi nhận sự tự thỏa thuận của bị cáo và các bị hại tại phiên tòa, bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho ông Bùi Quốc V, bà Phạm Thị T (bị hại và đại diện cho bị hại D ) số tiền 316.500.000 đồng (Ba trăm mườ i sá u triệ u năm trăm ngàn đồng), trừ lạ i 17.000.000 đồ ng (Mườ i bảy triệu đồng) đã bồ i hoà n trướ c , còn lại 299.500.000 đồ ng (Hai trăm chí n mươi chín triệu năm trăm ngàn đồng) bị cáo có trách nhiệm tiếp tục bồi hoàn.

3. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1 Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sử a đổ i bổ sung năm 2009 và điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trả lại cho bị cáo một giấy phép lái xe Hạng A1 số : 860151008373 do Sở giao thông vậ n tả i Vĩ nh L ong cấ p ngà y 21/4/2016 mang tên Trầ n Nguyên V và một xe môtô biể n kiể m soá t số 64B1-635 (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/4/2018 giữa Công an thành phố V và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V), nhưng tiế p tục quản lý xe môtô biển kiể m soá t số 64B1-635 để đảm bảo việc thi hành án.

4. Về trách nhiệm nộp á n phí:

Áp dụng khoản 2 Điề u 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luậ t Tố tụ ng hì nh sự năm 2015 và điể m a , điểm c khoản

1 Điều 23 của Nghị quyết số

: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội . Buộ c bị cáo Trầ n Nguyên V phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngà n đồ ng ) tiề n á n phí hình sự sơ thẩm và 14.975.000đ (Mườ i bố n triệ u chí n trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyề n khá ng cá o:

Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan có quyền là m đơn kháng cáo trong thờ i hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại (ông V) và ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan (bà L) vắ ng mặ t có quyền kháng cáo trong thờ i hạn 15 ngày, kể từ ngày nhậ n đượ c bả n á n hoặ c bả n á n đượ c niêm yế t theo quy đị nh của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ