- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Duy T "Giết người" - phạm tội giết người (điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trịnh Duy T phạm tội “Giết người”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 18 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2018/HS-ST Ngày: 13 - 4 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Minh Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Thắng.
2. Bà Nguyễn Thị Kim Dung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa:
Ông Vũ Văn Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 4 năm 2018 tại Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2018/TLST-HS ngày 25 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2018/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Trịnh Duy T, sinh năm 1989. Giới tính: nam;
Nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Thôn B, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Duy H, sinh năm 1958, con bà Ngô Thị C, sinh năm 1959; Gia đình có 3 chị em, bị cáo là con thứ 3; Chưa có vợ.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ 02/11/2017. Có mặt.
- Bị hại: Anh Phùng Văn N, sinh năm: 1982. ĐKTT: Số 3/191 Song Hào, phường V, thành phố N. Trú tại: Xóm T, xã L, thành phố N. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 20/10/2017 Trịnh Duy T đến làm việc tại xưởng dệt may của vợ chồng anh Phùng Văn N, chị Trịnh Thị P (là anh rể, chị gái của T). Anh Phùng Văn N, chị Trịnh Thị P đều đăng ký nhân khẩu thường trú tại phường V, thành phố N nhưng thuê nhà mở xưởng dệt may tại xóm T, xã L, thành phố N. T làm việc, ăn ở, sinh hoạt cùng gia đình anh N, chị P. Quá trình chung sống, T thường xuyên chứng kiến mâu thuẫn giữa vợ chồng anh N. Trưa ngày 31/10/2017, anh N dùng quyển sách đánh và ném vào người chị P, đến chiều cùng ngày thì giữa vợ chồng anh N chị P tiếp tục xảy ra mâu thuẫn trong công việc kinh doanh. Anh N túm tóc chị P lôi từ trên gác xép xuống dưới nhà sau đó dùng tay tát vào mặt chị P, chị P bỏ chạy thì anh N đuổi đánh chị P trong xưởng dệt may, sau được mọi người can ngăn anh N mới thôi. Trong quá trình lôi, đánh chị P thì anh N gọi T ra chứng kiến sự việc. Đến khoảng 15 giờ ngày 01/11/2017, T và anh N ngồi nói chuyện trong phòng khách nhà anh N, T nói với anh N “Vợ chồng phải bảo nhau làm ăn, không được đánh nhau tôi không thích”, anh N nói lại “chị mày còn hỗn láo thì anh vả cho rụng mấy cái răng cho mọi người biết”. Thấy anh N nói vậy thì T rất bực tức nên đã nảy sinh ý định đánh anh N.
Khoảng 7 giờ ngày 02/11/2017, do biết anh N đánh chị P nên bà Ngô Thị C (là mẹ đẻ chị P) từ Ninh Bình sang xưởng dệt may của vợ chồng anh N, chị P để nói chuyện khuyên giải hai người. Anh N đón bà C về nhà sau đó dẫn bà C đi thăm quan xưởng dệt len của vợ chồng. Quá trình đi thăm quan xưởng, bà C đi trước, anh N đi phía sau giới thiệu, lúc này trong xưởng có các công nhân là anh Phạm Tuấn M, Trần Văn B và Trịnh Duy T đang làm việc. Khi cả hai đi ra hướng cửa chính của xưởng, thấy bà C và anh N đi qua chỗ mình đang làm, T liền lấy chiếc búa cán gỗ dài 35cm, rộng khoảng 05cm, phần đầu búa bằng kim loại có kích thước (10x3x3)cm một đầu vuông, một đầu vát chữ V để tại hộp đồ nghề sửa chữa máy trong xưởng cầm trên tay phải rồi đi theo sau anh N. Khi đi ra gần đến cửa chính cách khoảng 03m, T đứng phía sau anh N cầm búa vung lên qua đầu đập mạnh một nhát hướng từ trên xuống dưới, chếch từ phải sang trái trúng vào vùng đỉnh đầu bên trái của anh N làm anh N choáng ngã xuống nền nhà, đầu chảy máu. Thấy vậy bà C hô lên “Ối giời ơi thằng T nó đánh thằng N”. Nghe thấy tiếng hô, anh M và anh B đang làm việc trong xưởng cùng mọi người đưa anh N vào bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định cấp cứu sau đó chuyển lên bệnh viện Việt Đức Hà Nội để điều trị.
Sau khi dùng búa đánh anh N, Trịnh Duy T cầm búa đi thẳng đến Công an xã Lộc An, thành phố Nam Định trình báo và nộp chiếc búa đã dùng để đánh anh N.
Tại cơ quan điều tra, Trịnh Duy T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Theo kết luận giám định thương tích tạm thời số 210/17/TgT ngày 07/11/2017 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Nam Định kết luận: tỉ lệ tổn thương cơ thể của anh N là 50%. Cơ chế hình thành thương tích do vết thương đang được băng kín do vậy chưa đánh giá được, đồng thời đề nghị Cơ quan điều tra trưng cầu giám định lại khi bị hại điều trị ổn định vết thương.
Ngày 18/12/2017, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Nam Định trưng cầu giám định tỉ lệ thương tật đối với bị hại Phùng Văn N sau khi đã điều trị ổn định vết thương. Ngày 30/12/2017, Trung tâm giám định pháp y tỉnh Nam Định có kết luận giám định pháp y số 252/17/TgT kết luận: Dấu vết tổn thương chính qua giám định lại: Tại đỉnh chẩm trái trên sau vành tai trái 10cm có vết sẹo chếch từ trên xuống dưới, từ phải sang trái, bờ mép tương đối gọn, kích thước (8 x 0,3)cm cùng vị trí vết sẹo có đám xương lõm đường kính 02cm, tại trán phải trên đầu lông mày phải 01cm có vết sẹo hình chữ l ngược, kích thước các cạnh là (1,5 x 0,2)cm và (1,2 x 0,2)cm. Kết quả chụp sọ não hình ảnh khuyết xương hộp sọ đỉnh chẩm trái đường kính 19mm, không có ảnh tổn thương não. Kết luận: Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của anh N là 30%. Cơ chế hình thành vết thương do vật cứng có cạnh tác động gây thương tích.
Sau khi vụ án xảy ra, bị cáo Trịnh Duy T đã tác động gia đình hỗ trợ chi phí thuốc men điều trị vết thương cho anh Phùng Văn N tổng số tiền là 80.000.000đồng. Đến nay anh N có đơn đề nghị các cơ quan pháp luật không giải quyết phần bồi thường dân sự, hai bên đã thoả thuận xong đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt cho Trịnh Duy T. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ 01 chiếc búa cán gỗ dài 35cm, rộng 05cm, phần đầu búa bằng kim loại có kích thước (10 x 3 x 3)cm, một đầu vuông, một đầu vát chữ V.
Bản cáo trạng số 06/QĐ-KSĐT-P2 ngày 25 tháng 01 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định truy tố: Bị cáo Trịnh Duy T về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999.
Tại phiên toà:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định luận tội: Giữ nguyên nội dung cáo trạng và quyết định đã truy tố. Sau khi xem xét đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Bị cáo Trịnh Duy T phạm tội “Giết người”.
Về hình phạt: Áp dụng khoản 2 Điều 93; điểm p, b, o khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 18; Điều 52 BLHS năm 1999.
Xử phạt bị cáo Trịnh Duy T từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù.
Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo Trịnh Duy T tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; Biên bản tiếp nhận đơn tự thú; Biên bản thu giữ vật chứng; Bản kết luận giám định; Lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ kết luận: Anh Phùng Văn N và chị Trịnh Thị P là anh rể và chị gái của Trịnh Duy T. T làm việc, ăn ở, sinh hoạt cùng gia đình anh N, chị P. Quá trình chung sống, T thường xuyên chứng kiến mâu thuẫn giữa vợ chồng anh N. Do bức xúc với anh N vì đã có hành vi hành hung, đánh chị gái mình, Trịnh Duy T có lời khuyên ngăn nhưng anh N không nghe mà còn có lời nói đe doạ nên T nảy sinh ý định đánh anh Nc. Sáng ngày 02/11/2017, Trịnh Duy T đã lấy chiếc búa có chiều dài 35cm, đầu búa bằng sắt có kích thước (10x3x3)cm một đầu vuông, một đầu vát hình chữ V, T đứng phía sau anh N tay phải cầm búa vung lên qua đầu đập mạnh một nhát hướng từ trên xuống dưới chếch từ phải sang trái trúng vào vùng đỉnh đầu bên trái của anh N.
Theo kết luận giám định pháp y số 252/17/TgT ngày 30/12/2017 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Nam Định, kết luận: Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của anh N là 30%.
Trịnh Duy T đã dùng búa đánh vào đầu anh N là vùng trọng yếu trên cơ thể dễ dẫn đến tử vong. Hành vi nêu trên của Trịnh Duy T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999.
Quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định là có căn cứ pháp lý.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Trịnh Duy T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 48 BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ: Ngay sau khi gây án, Trịnh Duy T đã ra đầu thú. Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo khai báo thành khẩn, thể hiện sự ăn năn hối hận với hành vi phạm tội của mình. Bị hại và gia đình bị cáo đã thoả thuận giải quyết xong phần bồi thường dân sự. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bố đẻ của bị cáo, ông Trịnh Duy H được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng ba. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm p, b, o khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.
Hành vi của Trịnh Duy T dùng búa đánh vào đỉnh đầu anh N (là vùng trọng yếu trên cơ thể dễ dẫn đến tử vong) là nguy hiểm, đã xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của anh Phùng Văn N là khách thể đặc biệt được pháp luật bảo vệ. Do vậy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm trừng trị, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo. Tuy nhiên, cũng xuất phát từ việc anh N vì đã có hành vi hành hung, đánh chị gái mình, Trịnh Duy T đã khuyên ngăn nhưng anh N không nghe mà còn có lời nói đe doạ. Trong quá trình lôi, đánh chị P thì anh N gọi T ra chứng kiến sự việc. Xét nguyên nhân phạm tội của bị cáo cũng có xuất phát điểm từ phía người bị hại. Hậu quả, người bị hại chỉ bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên ở mức 30%, không tử vong là ngoài ý muốn nên hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt theo quy định tại Điều 18 của Bộ luật hình sự. Trên cơ sở xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân bị cáo. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng Điều 52 của Bộ luật hình sự, ấn định cho bị cáo một mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt như vậy cũng tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đáp ứng được công cuộc đấu tranh phòng ngừa tội phạm nhất là đối với loại tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của người khác.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra, bị cáo Trịnh Duy T đã tác động gia đình hỗ trợ chi phí thuốc men điều trị vết thương cho anh Phùng Văn N tổng số tiền là 80.000.000đồng. Đến nay anh N có đơn đề nghị các cơ quan pháp luật không giải quyết phần bồi thường dân sự, hai bên đã thoả thuận xong. Do vậy, không đặt ra xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Vật chứng đã thu giữ trong quá trình điều tra vụ án không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trịnh Duy T phạm tội “Giết người”.
2. Áp dụng: khoản 2 Điều 93; điểm p, b, o khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 18, 52, 47 Bộ luật hình sự năm 1999.
Xử phạt bị cáo Trịnh Duy T 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/11/2017.
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 41 BLHS, Điều 76 BLTTHS.
- Tuyên tịch thu tiêu huỷ vật chứng đã thu giữ không còn giá trị sử dụng.
(Chi tiết cụ thể theo biên bản bàn giao vật chứng số 28/18 ngày 26/01/2018 giữa phòng PC45 - Công an tỉnh Nam Định với Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định).
4. Về án phí: Bị cáo Trịnh Duy T phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Báo bị cáo Trịnh Duy T, bị hại Phùng Văn N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao; - CA; VKS tỉnh NĐ. - Cục THADS tỉnh Nam Định; - Trại giam Đại An; Bị cáo. - Lưu hồ sơ; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Mai Thị Minh Hồng. |