vanban.org

Bản án 33/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 21/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Bùi Văn T 18 (Mười tám) tháng tù. Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Bùi Văn T phải nộp 20… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Bùi Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN THỦY
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2018/HS-ST
Ngày: 21/11/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Hải Dương

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hà, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hoà Bình tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Hồng Nhiên, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2018/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn số: 37/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Bùi Văn T, sinh ngày 15 tháng 5 năm 1994 tại xã Đoàn Kết, huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình; Nơi cư trú: Xóm Đầm, xã Đoàn Kết, huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Q và bà Bùi Thị K; vợ, con: Chưa có; tiền án: 01 tiền án (Bản án số 12/2018/HS-ST ngày 17/4/2018 của Toà án nhân dân huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng tính từ ngày tuyên án); tiền sự: Không; bị cáo Bùi Văn T bị tạm giam từ ngày 22/10/2018 đến nay (Có mặt tại phiên tòa).

- Người bị hại: Anh Bùi Văn T1, sinh năm 1985; Trú tại: Xóm Đồng Lạc, xã Đoàn Kết, huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình (Vắng mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Trịnh Ngọc H, sinh năm 1985, trú tại: Phố Dương, xã Ngọc Lương, huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 30/9/2018 Bùi Văn T, trú tại: Xóm Đầm, xã Đoàn Kết, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình một mình đi bộ từ nhà đến xóm Đồng Lạc, Đoàn Kết với mục đích tìm kiếm tài sản của người dân sơ hở để trộm cắp bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Bùi Văn T đi đến đoạn đường liên xã, khu vực trước cửa nhà anh Bùi Văn T1 ở xóm Đồng Lạc, Đoàn Kết thì phát hiện thấy cửa nhà anh T1 mở, trong nhà, gần vị trí đặt võng xếp, cách cửa ra vào khoảng 05 mét có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J6 màu đen đang cắm sạc treo trên tường, T tiếp tục quan sát xung quanh nhưng không thấy có người nên đã đi vào rút chiếc điện thoại di động ra khỏi sạc và bỏ điện thoại vào túi quần phía trước bên trái, sau đó T đi bộ ra ngoài đường liên xã và đi nhờ xe mô tô của một người đi đường (T không biết tên tuổi, địa chỉ) xuống phố Dương, Ngọc Lương, Yên Thuỷ, Hoà Bình với mục đích tìm nơi bán chiếc điện thoại di động vừa lấy trộm. Khi đến Phố Dương, Ngọc Lương, Bùi Văn T xuống xe và đi bộ đến quán điện thoại di động của anh Trịnh Ngọc H và hỏi anh H là “anh có mua điện thoại cũ không”, anh H trả lời “có”, sau đó T lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J6 màu đen ra đưa cho anh H xem và hỏi anh H là “bán được bao nhiêu tiền”, anh H trả lời “chỉ mua được 1.500.000 đồng thôi”, T hỏi lại “1.600.000 đồng được không” nhưng anh H bảo không được. Sau đó T đã đồng ý và bán chiếc điện thoại cho anh H với giá 1.500.000 đồng, sau khi bán xong T đi về nhà, chi tiêu cá nhân hết số tiền. Đến ngày 22/10/2018 Bùi Văn T nhận thức được hành vi của bản thân là sai, vi phạm pháp luật nên đã đến công an huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình xin tự thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 40/KL-HĐĐG ngày 12/10/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Thủy kết luận: Giá tại thời điểm ngày 30/9/2018 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J6 màu đen, kiểu máy SM-J600G/DS máy được mua mới và sử dụng từ tháng 8/2018 đến ngày 30/9/2018 là 2.300.000 đồng (Hai triệu ba trăm nghìn đồng)

Trong quá trình điều tra, xét không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình đã trả lại vật chứng gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J6 màu đen, kiểu máy SM-J600G/DS, số sê ri R58K7043R34, số imei (khe 1) 358465091572076, số imei (khe 2) 358465091572074, máy cũ đã qua sử dụng và 01 vỏ hộp điện thoại di động bằng giấy cứng màu trắng, kích thước 15,5x7,5x4,5cm, trên vỏ hộp có in chữ SAMSUNG GALAXY J6, SM-J600G/DS, COLOR: BLACK cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Bùi Văn T1.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Bùi Văn T1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Trịnh Ngọc H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.

Đối với anh Trịnh Ngọc H người mua chiếc điện thoại do bị cáo T bán, qua công tác điều tra đã làm rõ, anh H ngay tình không biết chiếc điện thoại mà bị cáo T bán cho mình là tài sản do T trộm cắp mà có nên cơ quan điều tra đã không xem xét trách nhiệm hình sự đối với anh Trịnh Ngọc H.

Tại cơ quan điều tra Bùi Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 34/QĐTT-VKSYT ngày 06/11/2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình đã· truy tố Bùi Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Thực hành quyền công tố tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, sau khi xem xét đánh giá toàn diện nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trình bày quan điểm và luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự:

+ Hình phạt chính: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b,r,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Văn T từ 12 tháng đến 18 tháng tù, căn cứ khoản 1 Điều 38, khoản 2 Điều 56, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt 08 tháng tù của bản án số 12/2018/HS-ST ngày 17/4/2018 của Toà án nhân dân huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2017 đến ngày 17/4/2018; buộc bị cáo Bùi Văn T phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án.

+ Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Bùi Văn T

- Về xử lý vật chứng: Đã được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Thủy xử lý theo quy định của pháp luật nên chấp nhận.

- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại điện thoại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận được tiền bồi thường, nay không có yêu cầu gì thêm, nên không đề cập xử lý.

- Bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn T đã nhận tội và nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hoà Bình truy tố.

Bị cáo T nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Yên Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và Kết luận định giá có đủ cơ sở xác định: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 30/9/2018 lợi dụng sơ hở của gia đình anh Bùi Văn T1 ở xóm Đồng Lạc, xã Đoàn Kết, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình, Bùi Văn T đã có hành vi lén lút, chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J6 màu đen của anh Bùi Văn T1, trị giá 2.300.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình đã truy tố bị cáo ra trước Toà án để xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn nêu trên là có căn cứ pháp lý.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã tự đến Công an huyện Yên Thủy xin tự thú và bồi thường số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) cho anh Trịnh Ngọc H để khắc phục hậu quả, bị cáo là người dân tộc Mường, sống ở vùng sâu của huyện miền núi đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm b,r,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án, ngày 17/4/ 2018 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng về tội trộm cắp tài sản, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rút kinh nghiệm cho bản thân mà ngược lại, bị cáo vẫn giữ nguyên thói hư, tật xấu, ham chơi, muốn có tiền tiêu sài cá nhân nhưng không muốn bỏ sức lao động, bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện để trở thành người công dân có ích cho xã hội mà lại tiếp tục hành vi trộm cắp tài sản dẫn đến phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và làm gương cho những người khác.

Tại bản án số 12/2018/HS-ST ngày 17/4/2018 của Toà án nhân dân huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình đã xử phạt Bùi Văn T 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản. Như vậy trong thời gian chấp hành hình phạt bị cáo lại phạm tội mới nên căn cứ khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự buộc Bùi Văn T phải chấp hành hình phạt 08 tháng tù của bản án số 12/2018/HS-ST ngày 17/4/2018 của Toà án nhân dân huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình; Căn cứ Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt buộc Bùi Văn T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án. Căn cứ khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự bị cáo Bùi Văn T được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam là 3 tháng 22 ngày (từ ngày 27/12/2017 đến ngày 17/4/2018).

Hình phạt bổ sung: Hiện tại bị cáo T không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Bùi Văn T1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Trịnh Ngọc H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo, bản thân bị cáo cũng không có yêu cầu khác về bồi thường cho người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình, đã trả lại vật chứng gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J6 màu đen, và 01 vỏ hộp điện thoại di động bằng giấy cứng màu trắng cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Bùi Văn T1 xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật nên tòa chấp nhận.

Các vấn đề khác:

Đối với anh Trịnh Ngọc H người mua chiếc điện thoại do bị cáo T bán, qua công tác điều tra đã làm rõ anh H ngay tình không biết chiếc điện thoại mà bị cáo T bán cho mình là tài sản do T trộm cắp mà có nên cơ quan điều tra đã không xem xét trách nhiệm hình sự đối với anh Trịnh Ngọc H là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt Bùi Văn T 18 (Mười tám) tháng tù.

- Căn cứ khoản 1 Điều 38; khoản 5 Điều 65; khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt 08 (Tám) tháng tù của bản án số: 12/2018/HS-ST ngày 17/4/2018 của Toà án nhân dân huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình. Buộc Bùi Văn T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là: 26 (Hai mươi sáu) tháng tù, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam là 03 (Ba) tháng 22 (Hai mươi hai) ngày, nay còn phải chấp hành 22 (Hai mươi hai) tháng, 08 (tám) ngày. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/10/2018.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Bùi Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm

3. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Hoà Bình.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ