vanban.org

Bản án 33/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 20/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuy n b bị áo Phan Minh T hạm t i “ ướ giật tài sản”.

X ph t: Bị cáo Phan Minh T 03 (ba) năm tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 11-01-2018. Kh ng áp dụng hình ph t bổ sung đ i với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Minh Tuấn - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuy n b bị áo Phan Minh T hạm t i “ ướ giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật T tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ D U
T NH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B n án s : 33/2018/HS-ST
Ngày: 20-4-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ D U T NH TÂY NINH

- Thành ph n H i đ ng xét x s th m g m có: Th m hán - Ch t a hi n t a Bà Lê Thị Vân Quỳnh á

i th m nhân dân

Ông Nguyễn Văn Phum

Ông Trần Văn Rọi

- Th ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Ngọc Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huy n ò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân huy n Gò D u, t nh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 4 năm 2018, t i trụ sở Tòa án nhân dân huy n ò Dầu, tỉnh Tây Ninh, xét x c ng khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý s 32/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét x s 33/2018/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2018 đ i với bị cáo:

Phan Minh T; tên gọi khác: kh ng có; sinh năm 1985, t i huy n H, tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hi n nay: ấp T, xã Đ, huy n H, tỉnh Tây Ninh; nghề nghi p: C ng nhân; trình độ học vấn: 01/12; qu c tịch: Vi t Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; t n giáo: Cao đài; con ông Phan Phi H và bà Trần Kim T; vợ Thị B; có 01 người con sinh năm 2012; tiền sự, tiền án: kh ng có; bị bắt t m giữ ngày 11-01-2018, t m giam ngày 14-01-2018 “có mặt”.

- Người bị hại Chị Nguyễn Thị Hồng O; sinh năm: 1974; nơi cư trú: ấp B, xã P, huy n , tỉnh Tây Ninh “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Kho ng 17 giờ 30 phút ngày 10-01-2018, bị cáo Phan Minh T điều khiển xe m t biển s 70F3-8490 đến huy n , tỉnh Tây Ninh tìm người đi đường có tài s n giật lấy đem bán lấy tiền tr nợ và tiêu xài cá nhân. Khi đến khu vực ấp C, xã P, huy n , tỉnh Tây Ninh, bị cáo phát hi n chị Nguyễn Thị Hồng O đang điều khiển xe m t biển s 70F1-444.26 lưu th ng trên đường từ ấp C, xã P, huy n đến ấp , xã H, huy n , trên người có đeo 01 sợi dây chuyền màu vàng nên bị cáo điều khiển xe đuổi theo, áp sát, dùng tay giật sợi dây chuyền của chị O và nhanh chóng ch y đi thì bị chị O cùng người đi đường đuổi theo và bắt qu tang. Qua điều tra, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi ph m tội.

Kết luận định giá tài s n s : 08/KL-HĐ ngày 06-02-2018 của Hội đồng định giá tài s n trong t tụng hình sự huy n , tỉnh Tây Ninh xác định 01 sợi dây chuyền vàng 24K, trọng lượng 05 chỉ và 01 mặt dây chuyền vàng 24K hình quan âm, trọng lượng 1,2 chỉ có tổng giá trị là 22.568.000 đồng.

Kết luận giám định s : 49/KL-KTHS ngày 07-02-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh xác định xe mô tô biển s : 70F3-8490 s máy, s khung không bị đục s a.

Kết qu thu giữ và x lý vật chứng: 01 đo n dây chuyền vàng lo i 24K và 01 xe mô tô biển s : 70F1-444.26 đã tr chủ sở hữu xong. Hi n đang t m giữ 01 xe mô tô biển s : 70F3-8490, 01 cái quần jean màu xanh, 01 áo khoác dài tay màu đen, 01 nón b o hiểm màu xanh, sọc trắng, 01 đi n tho i di động hi u Nokia 106.

Về trách nhi m dân sự: Chị O yêu cầu bị cáo bồi thường 01 phần dây chuyền cùng mặt dây chuyền bị mất và tiền điều trị thương tích do đuổi theo bị cáo bị té ngã tổng cộng 8.400.000 đồng. Bị cáo chấp nhận bồi thường.

T i b n cáo tr ng s 35/QĐ-KSĐT ngày 23-3-2018 của Vi n kiểm sát nhân dân huy n ò Dầu đã truy t bị cáo Phan Minh T về tội: “Cướp giật tài s n”, theo quy định điểm d kho n 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự. T i phiên tòa vị đ i di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n ò Dầu trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy t bị cáo về tội “Cướp giật tài s n”. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét x căn cứ điểm d kho n 2 Điều 171, điểm s kho n 1 và kho n 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: x ph t bị cáo Phan Minh T từ 03 đến 04 năm tù; kh ng ph t tiền bổ sung đ i với bị cáo; buộc bị cáo bồi thường cho bị h i 8.400.000 đồng; tịch thu xe m t của bị cáo, tr l i các tài s n khác cho bị cáo do kh ng liên quan đến vi c ph m tội.

Bị cáo kh ng tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng t i phiên tòa. Hội đồng xét x nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định t tụng của cơ quan điều tra C ng an huy n ò Dầu, Điều tra viên, Vi n kiểm sát nhân dân huy n ò Dầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy t đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật T tụng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên tòa, bị cáo và bị h i kh ng có người nào có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng. Do đó, các hành vi, quyết định t tụng của cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng đã thực hi n đều hợp pháp.

2 T i cơ quan điều tra c ng như t i phiên tòa, bị cáo Phan Minh T thừa nhận hành vi ph m tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị h i, người làm chứng, biên b n khám nghi m hi n trường, các chứng cứ có trong hồ sơ cùng lời luận tội của Kiểm sát viên. Từ đó, có đủ căn cứ kết luận hành vi ph m tội của bị cáo cụ thể như sau: Kho ng 17 giờ 30 phút ngày 10-01-2018, t i khu vực ấp C, xã P, huy n , tỉnh Tây Ninh, lợi dụng sự sơ hở của bị h i là chị O, bị cáo đã công khai, nhanh chóng giật lấy và chiếm đo t của chị O 01 sợi dây chuyền cùng mặt dây chuyền có trọng lượng 6,2 chỉ vàng 24K, giá trị là 22.568.000 đồng, sau khi chiếm đo t tài s n bị cáo nhanh chóng tẩu thoát thì bị bắt giữ; bị cáo dùng xe m t để thực hi n hành vi ph m tội. Cho nên hành vi của bị cáo đủ yếu t cấu thành tội “Cướp giật tài s n” với tình tiết định khung là “Dùng thủ đo n nguy hiểm”, tội ph m và hình ph t được quy định t i điểm d kho n 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi ph m tội của bị cáo đã trực tiếp xâm ph m đến quyền sở hữu về tài s n của c ng dân, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Nguyên nhân dẫn đến vi c ph m tội là do bị cáo kh ng chịu lao động lương thi n để sinh s ng mà mu n có tiền tiêu xài một cách nhanh chóng và bất hợp pháp. Cho nên, bị cáo ph i chịu trách nhi m hình sự do hành vi ph m tội mà bị cáo gây ra.

Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân t t, chưa có tiền án tiền sự, sau khi ph m tội bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có cha là ông Phan Phi H thực hi n nghĩa vụ quân sự t i đơn vị Đoàn 646 Quân khu 7 từ tháng 3-1989 đến tháng 9-1990. Đây là những tình tiết gi m nhẹ cho bị cáo được quy định t i điểm s kho n 1, kho n 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét lời luận tội và đề nghị của vị đ i di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n ò Dầu là phù hợp nên Hội đồng xét x cần ghi nhận.

Từ những nhận định trên xét thấy cần x ph t tù bị cáo với mức khởi điểm của khung hình ph t là tương xứng với tính chất mức độ và hành vi ph m tội của bị cáo, đồng thời để c i t o giáo dục bị cáo thành c ng dân t t cho xã hội, biết chấp hành pháp luật khi hòa nhập cộng đồng, nh m đ t được mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Do bị cáo kh ng có tài s n nên Hội đồng xét x kh ng áp dụng hình ph t bổ sung là ph t tiền đ i với bị cáo là phù hợp.

Về bi n pháp tư pháp:

hi nhận chị O đã nhận l i 01 phần của sợi dây chuyền. Riêng đ i với phần còn l i và mặt dây chuyền bị mất kh ng thu hồi được, chị O yêu cầu bị cáo bồi thường 5.400.000 đồng; đồng thời chị O yêu cầu bị cáo bồi thường 3.000.000 đồng tiền điều trị thương tích do truy đuổi bị cáo bị té ngã. Tổng cộng 8.400.000 đồng. Bị cáo chấp nhận bồi thường Hội đồng xét x cần ghi nhận là phù hợp với các điều 589 và 590 Bộ luật Dân sự.

Đ i với xe m t biển s 70F3-8490, giấy chứng nhận đăng ký xe do anh Phan Văn L đứng tên, bị cáo mua nhưng chưa sang tên nên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo. Bị cáo dùng làm phương ti n ph m tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp. Riêng đ i với giấy chứng nhận đăng ký xe kh ng thu hồi được do bị cáo khai đã thế chấp với s tiền 200.000 đồng t i Thành ph Hồ Chí Minh nhưng kh ng nhớ rõ thế cho người nào, ở đâu và đã làm mất biên nhận thế chấp nên Hội đồng xét x kh ng đặt ra gi i quyết, khi nào có tranh chấp sẽ gi i quyết trong vụ án khác.

Đ i với các vật chứng khác hi n đang thu giữ của bị cáo kh ng liên quan đến vi c ph m tội và hi n còn giá trị s dụng nên cần tuyên tr l i cho bị cáo là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo ph i chịu án phí theo quy định t i Điều 23 của Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Qu c hội quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và s dụng án phí, l phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuy n b bị áo Phan Minh T hạm t i “ ướ giật tài sản”.

- Căn cứ điểm d kho n 2 Điều 171, các điểm b, s kho n 1, kho n 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

X ph t: Bị cáo Phan Minh T 03 (ba) năm tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 11-01-2018.

Kh ng áp dụng hình ph t bổ sung đ i với bị cáo.

- Về bi n pháp tư pháp: Căn cứ các điều 47 và 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật T tụng hình sự; các điều 589 và 590 Bộ luật Dân sự:

Buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho chị Nguyễn Thị Hồng O 8.400.000 đồng (tám tri u, b n trăm ngàn đồng).

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe m t biển s 70F3-8490 do anh Nguyễn Minh L, SN: 1983, địa chỉ 7/14, ấp Trường Ân, xã Trường Đ ng, huy n Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh đứng tên, s máy VZS152FMH025059, s khung RMMWCHLMM51025059, lo i xe hai bánh từ 50-175 cm3, dung tích xi lanh 107.

Tr l i cho bị cáo: 01 cái quần jean màu xanh, 01 áo khoác dài tay màu đen; 01 nón b o hiểm màu xanh, sọc trắng, 01 đi n tho i di động hi u Nokia 106.

Vật chứng trên hi n Chi cục Thi hành án dân sự huy n ò Dầu đang qu n lý.

- Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Qu c hội quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và s dụng án phí, l phí Tòa án: Buộc bị cáo ph i nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 420.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Tổng cộng 02 kho n án phí là 620.000 đồng.

Trong thời h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Riêng bị h i vắng mặt được quyền kháng cáo trong h n 15 ngày kể từ ngày nhận được b n án hoặc b n án được t ng đ t hợp l .

Trường hợp b n án được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người ph i thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hi u thi hành án được thực hi n theo quy định t i Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM HỘI ĐỒNG X T X Ơ THẨM N i nh n:

Th ph n – Ch a ph n a

- TAND tỉnh Tây Ninh;

- VKSND tỉnh Tây Ninh;

- VKSND huy n ò Dầu;

- CC THADS huy n ò Dầu;

- C ng an huy n ò Dầu;

(Đã ký)

- Bị cáo;

- Bị h i;

- Lưu.

L Th V n Qu nh

Cỡ chữ