vanban.org

Bản án 33/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội Tuyên án 14/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015; Điểm b, p khoản 1 và Khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999;

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Đ , Nguyễ n Bá L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 10 (mườ i) tháng tù; thờ i hạn tù tính từ ngày chấ p hà nh á n. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015; Điểm b, p khoản 1 và Khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999;
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯƠNG MỸ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33 /2018/HS-ST
Ngày 14-3-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trầ n Trung Ú y

Ông Phạ m Tiế n Lợ i.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Đắc Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên toà: Bà Triệu Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩ m thụ lý số 20/2018/HSST ngày 12 tháng 02 năm 2018 theo Quyế t đị nh đưa vụ á n ra xé t xử số 11/2018/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 2 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. NGUYỄ N VĂN Đ, sinh năm 1993 tại huyện Q, Thành phố Hà Nội ; Nơi cư trú : Thôn Đ, xã Đ, huyệ n Q, Thành phố Hà Nội ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộ c: Kinh; giới tính: Nam; tôn giá o: Thiên Chú a giá o; quố c tị ch: Việt Nam; Con ông Nguyễ n Văn Kh và bà Trầ n Thị B ; vợ , con: Chưa; Danh chỉ bản số 114 lập ngày 09-01-2018 tại Công an huyện Chương Mỹ; tiền án: Không; tiề n sự : Ngày 22-7-2017 bị Chủ tịch UBND xã Đ (huyệ n Q) ra Quyế t đị nh áp dụ ng biệ n phá p giá o dụ c tạ i xã vớ i hì nh thứ c cai nghiệ n ma tú y

. Nhân thân: Ngày 06-5-2013 bị Chủ tịch UBND xã Đ (huyệ n Q) ra Quyế t đị nh á p dụ ng biệ n pháp giáo dục tại xã do sử dụng trái phép ma túy.

Bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an Thà nh phố Hà Nộ i trong vụ á n trộ m cắ p tà i sả n khác xảy ra trên đị a bà n huyệ n Q theo Quyế t đị nh tạ m giam củ a Tò a á n nhân dân huyện Q, có mặt.

2. NGUYỄ N BÁ L, sinh năm 1989 tại huyện Q, Thành phố Hà Nộ i; Nơi cư trú: Khu T, thị trấn X, huyệ n C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộ c: Kinh; giớ i tí nh: Nam; tôn giá o: Không; quố c tị ch: Việ t Nam; Con ông Nguyễ n Bá Đ và bà Đặng Thị T ; vợ là Nguyễn Thị A và 01 con sinh năm 2011; Danh chỉ bản số 113 lập ngày 09-01-2018 tại Công an huyện Chương Mỹ; tiền án, tiề n sự : Không; Nhân thân:

+ Ngày 07-9-2009 bị Tòa á n nhân dân huyệ n L , tỉnh H xử phạ t 12 tháng tù về tộ i “Trộ m cắ p tà i sả n” (chấ p hà nh xong hì nh phạ t tù ngà y 30-3-2010).

+ Ngày 18-2-2011 bị Công an thị trấn X, huyệ n Chương Mỹ phạt hành chính hình thức phạt tiền 1.500.000 đồ ng về hà nh vi “Đá nh bạ c”.

+ Ngày 04-9-2012 bị Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ , Thành phố Hà Nộ i xử phạ t 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (chấ p hà nh xong hình phạt tù ngày 09-11-2014).

Bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyệ n Q , Thành phố Hà Nội trong vụ á n trộ m cắ p tà i sả n khác xảy ra trên đị a bà n huyệ n Q theo Quyế t đị nh tạ m giam củ a Tò a á n nhân dân huyệ n Q, có mặt.

- Người bị hạ i: Anh Nguyễ n Văn Tr, sinh năm 1998 - Trú tại: Thôn H, xã N, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội, có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Lê Quố c M, sinh năm 1998 - Trú tại: Thôn Đ, xã L, huyệ n L, tỉnh H, vắ ng mặ t.

2. Chị Nguyễ n Thị Minh N, sinh năm 1974 - Trú tại: Thôn V, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội, vắ ng mặ t.

3. Ông Nguyễ n Văn K , sinh năm 1966 - Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyệ n Q, Thành phố Hà Nội, vắ ng mặ t.

4. Bà Đặng Thị Th , sinh năm 1957 - Trú tại: Khu T, thị trấn X , huyện C, Thành phố Hà Nội, vắ ng mặ t.

NỘ I DUNG VỤ Á N

Theo cá c tà i liệ u có trong hồ sơ vụ á n và diễn biến tại phiên tòa, nộ i dung vụ án được tóm tắt như sau : Khoảng 12 giờ ngày 02 tháng 10 năm 2017, Nguyễ n Văn Đ đi xe mô tô hiệ u Yamaha Exciter (tháo biể n kiể m soá t ) mang theo mộ t bộ vam phá khóa xe máy đến nhà Nguyễn Bá L rủ đi trộm cắp tài sản . Đ chở L đi theo đườ ng Hồ Chí Minh đến khu vực chợ Cá , xã N (huyệ n C) thì thấy có 01 xe mô tô hiệ u Honda Wave biể n kiể m soá t 29X1-xx của anh Nguyễn Văn Tr dự ng trướ c cửa quán Intenet thì dừng lại. L đứ ng bên ngoà i canh gá c cho Đ đi đế n dù ng vam phá khóa xe mô tô Honda Wave nhưng không được , Đ quay lạ i đưa bộ vam phá khó a cho L dùng vam phá được khóa xe và nổ máy đi đến cánh đồng khu Đ, thị trấn X (huyệ n C) đổ i xe cho Đ mang xe mô tô Honda Wave về nhà Đ cấ t giấ u. Sau khi biế t xe mô tô là của anh Nguyễ n Văn Tr ở thôn H, xã N (huyệ n C) thì L điệ n thoại Đ trả lại xe cho anh Tr . Ngày 5-10-2017, Đ mang xe đi thay ổ khó a và mang đế n nhà chị Nguyễn Thị Minh N ở thôn V, xã T (huyệ n C) nhờ chị N mang trả cho anh Tr, đến 22 giờ cù ng ngà y thì chị N báo cho anh Tr đến nhận lại xe mô tô bị mất trộ m.

Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Chương Mỹ kết luận: 01 chiế c xe hiệ u Honda Wave biể n kiể m soá t 29X1-xx có trị giá 13.000.000đồng. Anh Nguyễ n Văn Tr đã nhậ n lạ i xe và không có yêu cầ u bồ i thườ ng gì khá c.

Cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 12 tháng 02 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Nguyễ n Văn Đ , Nguyễ n Bá L về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn Đ , Nguyễ n Bá L cùng khai nhậ n hà nh vi lé n l út chiế m đoạ t đượ c 01 chiế c xe mô tô hiệ u Honda Wave biể n kiể m soá t 29X1-xx ở khu vự c chợ Cá , xã N (huyệ n C). Khi biế t xe mô tô trộ m cắ p đượ c là tà i sản của anh Nguyễ n Văn Tr thì L điệ n thoạ i cho Đ trả cho anh Tr , Đ đã đi sử a ổ khóa và nhờ chị N trả lại cho anh Tr. Các bị cáo đều nhận thức đượ c sai phạ m, xin đượ c khoan hồ ng và giả m nhẹ hì nh phạ t.

Ngườ i bị hạ i Nguyễ n Văn Tr trình bày ngay sau khi bị mất xe mô tô đã trình báo Công an , sau khi trích xuất Camera của quán đã xá c đị nh đượ c đố i tượ ng lấ y trộ m là Nguyễ n Văn L nên đã đế n nhà L nói chuyện. Sau đó khoảng 03 ngày thì có chị N gọi điện đến nhà chị N lấ y lạ i xe mô tô. Do cá c bị cá o đã trả lạ i xe nên anh Tr có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát huyệ n Chương Mỹ tham gia phiên tò a khẳ ng đị nh có đầ y đủ căn cứ truy tố Nguyễ n Văn Đ , Nguyễ n Bá L về tộ i “Trộ m cắ p tà i sả n” ; đề nghị Hộ i đồ ng xé t xử áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm b, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (áp dụng thêm điểm i Khoản 1 Điề u 51 đố i vớ i bị cáo Đương), đề nghị phạt Nguyễ n Văn Đ, Nguyễ n Bá L từ 06 đến 09 tháng tù; Không phạt tiền bổ sung đố i vớ i các bị cáo.

NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒ A Á N

Trên cơ sở nộ i dung vụ á n, căn cứ và o cá c tài liệu trong hồ sơ vụ á n đã được tranh tụ ng tại phiên toà, Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n đị nh như sau:

[1] Về tộ i danh: Xét lờ i khai nhậ n hành vi phạm tội củ a cá c bị cáo tại phiên tòa phù hợp vớ i nhau, phù hợp với lời khai người làm chứng, vậ t chứ ng và phù hợ p vớ i các tài liệu, chứng cứ đượ c thu thậ p trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ kế t luậ n : Nguyễ n Văn Đ , Nguyễ n Bá L cùng thự c hiệ n hà nh vi lén lút chiếm đoạt 01 chiế c xe mô tô hiệ u Honda Wave biể n kiể m soá t 29X1-xx trị giá 13.000.000 đồng của anh Nguyễ n Văn Tr . Hành vi của bị cáo thực hiện trước khi Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hàn h nên Hộ i đồ ng xé t xử á p dụ ng cá c quy đị nh củ a Bộ luậ t hình sự năm 1999 để xét xử các bị cáo , đồ ng thờ i á p dụ ng quy đị nh có lợ i cho bị cáo theo Bộ luật hình sự năm 2015. Do tội “Trộ m cắ p tà i sả n” tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 quy đị nh nhẹ hơn so với Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 nên Cáo trạng của Viện kiểm sá t nhân dân huyệ n Chương Mỹ truy tố các bị cáo Nguyễ n Văn Đ, Nguyễ n Bá L theo Khoả n 1 Điề u 173 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015 là có căn cứ, đú ng phá p luậ t.

[2] Về tí nh chấ t, mứ c độ tộ i phạ m và năng lự c chị u trá ch nhiệ m hì nh sự và vai trò phạ m tộ i củ a từ ng bị cá o : Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự trên địa bàn; Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội, thấy cần áp dụng hình phạt tù thỏ a đá ng đố i vớ i các bị cáo để giáo dục và răn đe, phòng ngừa chung.

Bị cáo Nguyễ n Văn Đ là người chuẩn bị công cụ phạm tội và rủ rê Nguyễ n Bá L cùng thực hiện hành vi phạm tộ i nên xét về vai trò phạm tội thì Nguyễ n Văn Đ phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn Nguyễn Bá L.

[3] Về nhân thân: Bị cáo Nguyễ n Văn Đ đã 02 lầ n bị ra quyế t đị nh á p dụ ng biệ n phá p giá o dụ c tạ i xã do nghiệ n và sử dụ ng ma tú y , bị cáo Nguyễn Bá L đã 02 lầ n bị kế t á n , 01 lầ n bị xử phạ t hà nh chí nh ; Ngoài ra, các bị cáo còn đang bị truy cứ u trá ch nhiệ m hì nh sự trong vụ á n trộ m cắ p tà i sả n khá c trên đị a bàn huyện Q là các tình tiết về nhân thân đượ c xem x ét khi quyết định áp dụng hình phạt đối với từ ng bị cá o.

[4] Về cá c tì nh tiế t tăng nặ ng , giảm nhẹ: Các bị cáo không phạm vào các tình tiết tăng nặng theo quy đị nh tạ i Điề u 48 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999.

Các bị cáo đều khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải, đã tự nguyệ n khắ c phụ c hậ u quả trả lại tài sản cho ngườ i bị hạ i là các tình tiết giảm nhẹ theo quy đị nh tạ i Điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999. Tại phiên tòa, ngườ i bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ cho các bị cáo là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Khoản 2 Điề u 46 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện kinh tế và hoàn cảnh của gia đình các bị cáo, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền bổ sung.

[6] Về bồ i thườ ng thiệ t hạ i : Anh Nguyễ n Văn Tr đã nhậ n tài sản bị chiếm đoạ t và không có yêu cầ u bồ i thườ ng gì khá c nên Hộ i đồ ng xé t xử không xem xé t.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy đị nh.

[8] Về tí nh hợ p phá p củ a cá c hà nh vi , quyế t đị nh tố tụ ng : Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Điề u tra viên , Kiể m sá t viên và ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng khá c trong vụ á n đượ c thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hì nh sự nên cá c hành vi tố tụng, quyế t đị nh tố tụ ng và cá c tà i liệ u chứ ng cứ đã thu thậ p trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015; Điểm b, p khoản 1 và Khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999;

- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Đ , Nguyễ n Bá L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 10 (mườ i) tháng tù; thờ i hạn tù tính từ ngày chấ p hà nh á n.

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá L 08 (tám) tháng tù; thờ i hạ n tù tí nh từ ngà y chấ p hà nh á n.

- Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quố c hộ i quy định về án phí và lệ phí Tòa án , buộc cá c bị cá o Nguyễ n Văn Đ , Nguyễ n Bá L mỗ i ngườ i phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo và người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ