- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Bùi Thị H yeu cầu được ly hôn với anh Phạm Hoàng Thanh T, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung,không yêu cầu cấp dưỡng"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị H đƣợc ly hôn với anh Phạm Hoàng Thanh T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 33/2018/HNGĐ-ST Ngày 02-4-2018 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN T NH NH DƯ NG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Minh Châu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Ngọc Diệp;
2. Ông Lê Phú Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thụy - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2018, tại Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 950/2017/TLST-HNGĐ ngày 29/11/2017 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 21/2018/QĐXXST-HN ngày 23/02/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2018/QĐST-HNGĐ ngày 14/3/2018, giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1980;
Thƣờng trú: 1/16B Tổ 7, Trƣờng Phú, xã T, huyện H, tỉnh Tây Ninh;
Tạm trú: 30/16 Bế Văn Đàn, khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Phạm Hoàng Thanh T, sinh năm 1981;
Thƣờng trú: 1/16B Tổ 7, Trƣờng Phú, xã T, huyện H, tỉnh Tây Ninh;
Tạm trú: 70/3B khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 20/11/2017 và lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Bùi Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Sau một thời gian tìm hiểu, chị Bùi Thị H và anh Phạm Hoàng Thanh T tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Tây Ninh, theo giấy chứng nhận kết hôn số 12, quyển số 01 ngày 18/01/2002, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, đƣợc hai bên gia đình đồng ý và có tổ chức lễ cƣới.
Sau khi chung sống và kết hôn, vợ chồng sống thuê trọ tại khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 4 năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T có quan hệ bất chính với ngƣời phụ nữ khác và chuyển ra ngoài sinh sống, vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nay, chị Bùi Thị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên yêu cầu đƣợc ly hôn với anh Phạm Hoàng Thanh T.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Phạm Kiều H, sinh ngày 23/8/2002, khi ly hôn chị H yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu anh T phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về quyền và nghĩa vụ tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Phạm Hoàng Thanh T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải b ng hình thức niêm yết và yêu cầu anh Phạm Hoàng Thanh T có ý kiến trả lời b ng văn bản đối với các yêu cầu của chị H nhƣng anh T không có ý kiến cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì. Vào ngày 12/02/2018 Tòa án triệu tập anh T tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham gia hòa giải, nhƣng anh T vắng mặt không có lý do. Tòa án đã triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa đối với anh T nhƣng anh vẫn vắng mặt hai lần liên tiếp, đồng thời cũng không có ý kiến và cũng không cung cấp bất cứ tài liệu chứng cứ gì để thể hiện anh T đồng ý hay không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của chị H. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Phạm Hoàng Thanh T theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn không chấp hành theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ vào Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định. Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Tòa án nhận định:
Về điều kiện thụ lý vụ án: Căn cứ vào đơn khởi kiện của chị Bùi Thị H thì đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn anh Phạm Hoàng Thanh T có địa chỉ tạm trú tại phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về sự vắng mặt của các đƣơng sự: Chị Bùi Thị H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt vào ngày 12/02/2018. Bị đơn anh Phạm Hoàng Thanh T đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào các ngày 14/3/2018 và ngày 02/4/2018 nhƣng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị H và anh Phạm Hoàng Thanh T là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh, theo giấy chứng nhận kết hôn số 12, quyển số 01 ngày 18/01/2002, là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Mục đích của hôn nhân là nh m xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt đƣợc mục đích đó vợ chồng phải chung thủy, thƣơng yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của chị H thì thực tế cuộc sống vợ chồng của chị H và anh T có nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T có quan hệ bất chính với ngƣời phụ nữ khác và chuyển ra ngoài sinh sống, nên vợ chồng đã sống ly thân. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã triệu tập anh T đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng anh T không đến tham gia hòa giải và cũng không tham gia phiên tòa, điều này càng chứng tỏ tình cảm vợ chồng đã thực sự không còn và cả hai bên đều không muốn hàn gắn, vì vậy chị H yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định của Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.
Về con chung: Giữa chị Bùi Thị H và anh Phạm Hoàng Thanh T có một con chung tên Phạm Kiều H, sinh ngày 23/8/2002 chị H yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung. Tuy nhiên, việc giao con cho ai trực tiếp nuôi dƣỡng cần phải xem xét về mọi mặt và đảm bảo quyền lợi của con chƣa thành niên. Xét cháu H còn nhỏ, là con gái nên cần đƣợc sự chăm sóc, nuôi dƣỡng của ngƣời mẹ. Anh T không có ý kiến về vấn đề con chung. Do vậy, việc giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dƣỡng s bảo đảm quyền lợi của phụ nữ, trẻ em khi vợ chồng ly hôn và đảm bảo tiếp tục duy trì cuộc sống bình thƣờng về mọi mặt của cháu là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dƣỡng nuôi con: Chị Bùi Thị H không yêu cầu anh Phạm Hoàng Thanh T phải có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con. Xét đây là sự tự nguyện của chị H nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu Tòa án án giải quyết.
Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về tranh chấp ly hôn, nuôi con của chị Bùi Thị H với anh Phạm Hoàng Thanh T.
Lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An là phù hợp nhƣ những phân tích nêu trên.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bùi Thị H chịu án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị H đƣợc ly hôn với anh Phạm Hoàng Thanh T.
2. Về con chung: Buộc anh Phạm Hoàng Thanh T giao con chung là cháu Phạm Kiều H, sinh ngày 23/8/2002 cho chị Bùi Thị H trực tiếp nuôi dƣỡng.
Sau khi ly hôn, chị Bùi Thị H và anh Phạm Hoàng Thanh T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không ai có quyền cản trở chị H và anh T thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dƣỡng.
3. Về nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Bùi Thị H về việc không yêu cầu anh Phạm Hoàng Thanh T phải có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.
4. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bùi Thị H phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0010447 ngày 28/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
6. Án xử công khai, tuyên án vắng mặt các đƣơng sự.
7. Nguyên đơn chị Bùi Thị H và anh Phạm Hoàng Thanh T vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thị xã Dĩ An; - CCTHA DS thị xã Dĩ An; - Đƣơng sự; - UBND xã Tân Hiệp, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh; - Lƣu: VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phan Thị Minh Châu |