- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Đình T đối với chị Thái Thị Kim A.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2018/ HNGĐ-ST Ngày: 29/8/2018 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thúy Hạnh - Thẩm phán;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tạ Quang Hiên;
2. Ông Đỗ Mạnh Điền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 269/2018/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2018 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2018/QĐXX-ST ngày 16 Tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1983;
- Bị đơn: Chị Thái Thị Kim A, sinh năm 1984.
Cùng HKTT và cư trú: TDP H, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
(Các đương sự có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 04/7/2018 và các lời khai tại Tòa án nguyên đơn anh Nguyễn Đình T trình bày:
Anh xây dựng gia đình với chị Thái Thị Kim A trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện M, thành phố Hà Nội năm 2010. Sau khi kết hôn anh, chị chung sống với nhau bình thường được một thời gian là khoảng 5 năm thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu xuất phát từ việc mâu thuẫn giữa công việc và gia đình bên vợ nên dẫn đến bất đồng quan điểm sống giữa hai vợ chồng, vợ anh thường xuyên gây sự chửi bới, nói những lời nói khó nghe và vượt quá giới hạn của người làm vợ. Vấn đề tình cảm vợ chồng giữa anh và chị Kim A không hòa hợp được. Anh và chị Kim A không tìm được tiếng nói chung. Đến nay mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn, kéo dài hơn mà không thể khắc phục được. Cuộc sống hôn nhân ngột ngạt, mệt mỏi, mục đích hôn nhân không đạt được. Xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Thái Thị Kim A.
- Về con chung: Anh, chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Nguyệt A, sinh ngày 13/10/2011 và cháu Nguyễn Thái B, sinh ngày 18/7/2014. Hiện nay 02 cháu đều đang ở cùng với mẹ là chị Thái Thị Kim A. Ly hôn anh chị đã thống nhất cả hai con sẽ do mẹ là chị Kim A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh cấp dưỡng nuôi con 5.000.000 đồng/tháng cho một con, hai con là 10.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 5/2018. Hiện nay, anh đang làm ở Công ty cổ phần đầu tư xây dựng tài nguyên môi trường, đô thị Việt Nam, thu nhập hàng tháng 5.000.000 đồng/tháng. Ngoài ra, anh có buôn bán thêm, anh đủ khả năng để cấp dưỡng nuôi con 10.000.000 đồng/tháng. Nếu chị không nuôi, thì anh xin được nuôi cả hai con và anh không yêu cầu chị Kim A cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 27/7/2018 và các lời khai bị đơn chị Thái Thị Kim A trình bày:
Chị và anh Nguyễn Đình T xây dựng gia đình với nhau năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện M, thành phố Hà Nội trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu vì anh chị lại là bạn cùng trường, học một lớp và yêu nhau từ thời sinh viên. Sau khi kết hôn anh, chị sống với nhau hạnh phúc cho đến khoảng đầu năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân bắt nguồn từ việc anh T có quan hệ ngoài luồng với người đàn bà khác. Thời điểm đó là anh đi công tác ở Quảng Bình, anh T qua lại với người phụ nữ cho đến ngày 17 tháng 01 năm 2017 thì anh chấm dứt mối quan hệ ngoài luồng và trở về nhà với vợ con, từ đó vợ chồng anh chị lại sống hạnh phúc. Đến 28/5/2018 thì anh T bắt đầu lại có mối quan hệ ngoài luồng với người đàn bà khác và anh bỏ nhà đi từ đó đến giờ không về nhà, cũng không hỏi han gì vợ con, không quan tâm đến gia đình. Trong khi đó vợ chồng đang xây nhà, khi anh T đi đã xây dựng đến tầng 4 toàn bộ công việc lo liệu tiếp là chị và bố mẹ chồng. Nay, anh Nguyễn Đình T có đơn xin ly hôn tại Tòa, chị không đồng ý ly hôn vì chị cho rằng anh T khai là không đúng, đồng thời anh T đang ngoại tình với một người khác khoảng hơn 02 tháng nay. Bản thân chị cũng như gia đình hai bên đã khuyên giải nhiều lần, bố mẹ đẻ anh cũng đã rất nhiều lần nói chuyện với anh nhưng anh không thay đổi. Anh cũng chơi bời với nhiều người con gái chứ không phải chỉ có 01 người. Chị sẽ cố gắng tìm biện pháp khắc phục tình cảm vợ chồng để gia đình được đoàn tụ. Thời gian anh bỏ đi chị vẫn thường xuyên nhắc nhở các con gọi cho bố. Chị đề nghị Tòa án giải quyết để vợ chồng về đoàn tụ cho các con có bố có mẹ, chị còn rất yêu chồng.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung như anh T đã trình bày. Hiện nay, 02 cháu đều đang ở cùng với chị. Nếu phải ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi cả hai con. Việc anh T cấp dưỡng nuôi con cho cả hai con 10.000.000 đồng/tháng chị cũng đồng ý. Nhưng nguyện vọng của chị vẫn muốn gia đình được đoàn tụ, chị không muốn ly hôn. Hiện nay, chị đang làm ở cục Viễn Thám Quốc gia tại số 79 đường Văn Tiến Dũng, thu nhập hàng tháng 4.000.000 đồng/tháng. Hiện nay, chị và các con đang ở ổn định tại TDP H, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Nguyên đơn anh Nguyễn Đình T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Thái Thị Kim A. Về con anh vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày, anh để cho chị Thái Thị Kim A trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu và hàng tháng cấp dưỡng nuôi con 10.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 5/2018. Nếu chị Kim A không nuôi anh xin nuôi cả hai cháu và không yêu cầu chị Kim A cấp dưỡng. Anh không yêu cầu giải quyết về tài sản.
- Bị đơn chị Thái Thị Kim A giữ nguyên ý kiến như đã trình bày tại Tòa, chị không đồng ý ly hôn với anh T, chị cho rằng anh T khai không đúng. Nguyện vọng của chị là muốn gia đình được đoàn tụ và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh T đoàn tụ chị vẫn còn yêu anh T. Về con chung, trong trường hợp phải ly hôn thì chị có nguyện vọng được nuôi cả hai con, việc anh T cấp dưỡng nuôi con 10.000.000 đồng/tháng, chị đồng ý. Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm phát biểu ý kiến: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm đưa vụ án ra xét xử thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của mình. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Về nội dung vụ án: Việc anh T đưa ra căn cứ để xin ly hôn với chị Kim A là không có cơ sở nên đề nghị Tòa án không chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Nguyễn Đình T đối với chị Thái Thị Kim A.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về tố tụng:
Anh Nguyễn Đình T và chị Thái Thị Kim A đăng ký kết hôn ngày 19/7/2010 tại UBND xã H, huyện M, thành phố Hà Nội trên cơ sở có tìm hiểu có tự nguyện đăng ký kết hôn, do đó đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng anh, chị chung sống với nhau hạnh phúc và đăng ký hộ thường trú tại TDP H, phường T, quận B, Hà Nội.
Ngày 04/7/2018, anh Nguyễn Đình T có đơn xin ly hôn với chị Thái Thị Kim A. Chị Thái Thị Kim A có nơi cư trú tại TDP H, phường Tây Tựu, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội nên yêu cầu của anh Thiên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Về nội dung:
- Về tình cảm: Sau khi kết hôn vợ chồng anh, chị chung sống với nhau hạnh phúc được khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Theo anh T thì vợ chồng mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm sống, chị Kim A hay gây sự chửi bới, nói những lời nói khó nghe, tình cảm không hòa hợp được. Theo như chị Kim A thì vợ chồng mâu thuẫn là do anh T có quan hệ ngoài luồng với người phụ nữ khác, ngoài ra không có mâu thuẫn nào khác. Bản thân chị cũng rất cố gắng vun vén gia đình, tìm cách khắc phục để hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Tổng hợp các lời khai, chứng cứ mà các đương sự nêu ra và căn cứ vào kết quả xác minh tại nơi cư trú, tài liệu đương sự cung cấp và các tài liệu khác có trong quá trình thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án, HĐXX nhận thấy: mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Nguyễn Đình T và chị Thái Thị Kim A chủ yếu phát sinh từ phía anh T, do anh có mối quan hệ với người phụ nữ khác mà bỏ mặc, thiếu trách nhiệm với gia đình. Chị Kim A tha thiết xin được đoàn tụ vì vẫn còn yêu thương anh T và muốn anh T trở về với gia đình để cùng chị chăm sóc, nuôi dạy con cái. Nên xét thấy mâu thuẫn chưa đến mức trầm trọng, mục đích xin ly hôn của anh Nguyễn Đình T không chính đáng, không có căn cứ nên cần không chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Nguyễn Đình T đối với chị Thái Thị Kim A.
Do không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Đình T đối với chị Thái Thị Kim A nên HĐXX không xem xét các yêu cầu khác của các đương sự.
Về án phí: Anh Nguyễn Đình T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a, khoản 5, điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Đình T đối với chị Thái Thị Kim A.
2. Về án phí: Anh Nguyễn Đình T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Anh T đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai số AB/2014/06190 ngày 12/7/2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm, được chuyển thành án phí.
Án xử công khai sơ thẩm. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- TAND thành phố Hà Nội;
- VKSND quận Bắc Từ Liêm;
- VKSND thành phố Hà Nội;
- Chi cục THADS quận Bắc Từ Liêm;
- UBND xã H;
Đỗ Thị Thúy Hạnh
- Các đương sự;
- Lưu HS, VP.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Thành phố HN. - VKS Từ Liêm, VKS Hà Nội. - Cơ quan Thi hành án Từ Liêm. - Các đương sự | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đỗ Thị Thuý Hạnh |