- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị T yêu cầu được ly hôn với anh L, yêu cầu được nuôi con chung và yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con."
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Căn cứ chính? Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2018/HNGĐ-ST Ngày: 07-11-2018 V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Phước Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Lâm.
Ông Lê Thanh Khởi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Hòa - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý - Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 118/2018/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2018 về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2018/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1982; cư trú tại ấp T, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Bị đơn: Anh Phan Tuấn L, sinh năm 1984; cư trú tại ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 6 năm 2018 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
Vào ngày 29/3/2014, chị Nguyễn Thị T và anh Phan Tuấn L được gia đình tổ chức đám cưới. Anh chị có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 75, quyển số 01/2014 ngày 04 tháng 4 năm 2014, là hôn nhân tự nguyện. Sau khi cưới, chị về sống chung bên nhà mẹ chồng tại ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Trong thời gian chung sống, chị T nhận thấy anh L không có trách nhiệm của người chồng, người cha, mọi việc sinh hoạt làm ăn tự anh L quyết định mà không bàn bạc với chị T. Chị T đã cố gắng hàn gắn mong anh L thay đổi tính tình, cùng nhau chăm lo hạnh phúc gia đình, nhưng anh L vẫn không thay đổi tính tình, cũng không lo cho con, dần dần tình cảm vợ chồng không còn, tiếp tục sống chung cũng không hạnh phúc. Chị T và anh L không còn sống chung từ tháng 10 năm 2016 cho đến nay.
Trong thời gian chung sống, chị và anh L có 01 con chung tên Phan Nguyễn Kim A, sinh ngày 13/7/2015, hiện nay đang sống chung với chị T.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Nay chị Nguyễn Thị T yêu cầu Toà án giải quyết:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T yêu cầu được ly hôn với anh Phan Tuấn L.
- Về con chung: Chị T yêu cầu được nuôi cháu Phan Nguyễn Kim A, sinh ngày 13/7/2015 cho đến khi tròn 18 tuổi, chị T yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng đến khi cháu A tròn 18 tuổi.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý vụ án số 252/TB-TLVA ngày 23 tháng 7 năm 2018, tống đạt hợp lệ cho bị đơn anh Phan Tuấn L, nhưng anh L không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị T. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ 02 lần đối với anh L để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh L đều vắng mặt không có lý do, nên Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được và cũng không có lời khai trong hồ sơ vụ án.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự, trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, riêng bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án, xét thấy nguyên đơn, bị đơn thường xuyên mâu thuẫn với nhau do bất đồng ý kiến, không còn sống chung với nhau thời gian dài, không hàn gắn được nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn; về con chung, giao cháu Phan Nguyễn Kim A, sinh ngày 13/7/2015 cho nguyên đơn nuôi dưỡng đến tuổi thành niên, tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 695.000 đồng, xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở, đúng quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Về án phí nguyên đơn có đơn yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng trong vụ án ly hôn, bị đơn phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con. Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử nghị án và tuyên án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị T, cư trú tại ấp T, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, anh Phan Tuấn L, cư trú tại ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Chị T có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh L, yêu cầu được nuôi con chung và yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung. Chị T đã nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án nhân dân huyện M đã thụ lý đơn và thông báo cho chị T nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật và chị T đã thực hiện việc nộp tiền tạm ứng án phí đúng quy định. Như vậy, việc Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng thụ lý việc khởi kiện của chị Nguyễn Thị T là đúng thẩm quyền và đúng theo trình tự thủ tục tố tụng theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với bị đơn anh Phan Tuấn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Phan Tuấn L.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1982 và anh Phan Tuấn L, sinh năm 1984 tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 75, quyển số 01/2014 ngày 04 tháng 4 năm 2014 nên quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị và anh Phan Tuấn L là hợp pháp.
Xét lý do xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T, Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng chị T, anh L hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn vì bất đồng quan điểm sống, vợ, chồng thường hay cãi vã làm cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Đến tháng 10 năm 2016, thì chị T, anh L không còn sống chung cho đến nay và chị T, anh L đã bỏ mặc nhau làm cho tình trạng hôn nhân của vợ chồng anh, chị trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.
Về con chung: Tại phiên toà sơ thẩm, chị T yêu cầu được nuôi con chung là cháu Phan Nguyễn Kim A, sinh ngày 13/7/2015 đến tuổi thành niên. Xét yêu cầu được nuôi con chung của chị T, Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi sinh ra cho đến nay cháu A đều do chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên về mặt tình cảm cháu A gắn bó với chị T nhiều hơn và cũng để cho cháu A ổn định cuộc sống nên căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử cần xem xét chấp nhận giao cháu Phan Nguyễn Kim A, sinh ngày 13/7/2015 cho chị T nuôi dưỡng đến tuổi thành niên là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa, chị T yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi cháu A hàng tháng với mức cấp dưỡng 695.000 đồng cho đến khi cháu A tròn 18 tuổi. Căn cứ vào khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình quy định “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con” nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị T, buộc anh Phan Tuấn L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên Phan Nguyễn Kim A, sinh ngày 13/7/2015 với mức cấp dưỡng hàng tháng 695.000 đồng/tháng cho đến khi cháu A tròn 18 tuổi là đúng pháp luật.
Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình, anh Phan Tuấn L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Anh L không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của chị T.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị T là người có đơn xin ly hôn nên căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng. Anh Phan Tuấn L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên căn cứ vào điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, anh Phan Tuấn L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 56, khoản 1 và khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
- Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Phan Tuấn L được ly hôn.
2. Về con chung: Giao cháu Phan Nguyễn Kim A, sinh ngày 13/7/2015 cho chị Nguyễn Thị T nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Anh Phan Tuấn L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Anh L không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của chị T.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Phan Tuấn L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Phan Nguyễn Kim A, sinh ngày 13/7/2015 với mức cấp dưỡng 695.000 đồng/01 tháng, phương thức cấp dưỡng hàng tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 07/11/2018 cho đến khi cháu A tròn 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị T là người đại diện hợp pháp của cháu Phan Nguyễn Kim A là người đại diện nhận tiền cấp dưỡng.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2016/ 0000078 ngày 17 tháng 7 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, chị Nguyễn Thị T đã nộp xong án phí. Anh Phan Tuấn L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch về cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng.
6. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện M; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện M; - TAND tỉnh Sóc Trăng (P.KTNV & THA); - UBND xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; - Lưu hồ sơ; - Lưu Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Đặng Phước Tuấn |