- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Diệp Thị L xin ly hôn anh Nguyễn Mạnh C"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu án phí, lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2018/HNGĐ-ST Ngày 17 tháng 9 năm 2018 “V/v: Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hữu Lực
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Kim Khuyên
Bà Đặng Thị Liễu
- Thư ký phiên toà: Bà Lại Phương Thúy – Thư ký Toà án nhân dân huyện Lập Thạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên tòa: Bà Diệp Thị Thanh Tâm – Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 135/2018/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2018, về việc tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2018, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Diệp Thị L, sinh năm 1987 Nơi ĐKHKTT: Thôn Thanh Vân, xã Vân Trục, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi cư trú: Thôn Đồng Hội, xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1974 Nơi cư trú: Thôn Thanh Vân, xã Vân Trục, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn đề ngày 21/5/2018 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Diệp Thị L trình bày:
Chị kết hôn với anh C ngày 07/3/2012, trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vân Trục. Sau khi kết hôn, chị về C sống và làm ăn cùng gia đình anh C. Đến tháng 2/2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh C hay chơi bời cờ bạc không quan tâm đến vợ con, chị có nói thì anh C đánh chị nhiều lần nên chị bỏ về nhà bố, mẹ đẻ ở được khoảng hai tháng sau đó lại quay về sống cùng anh C. Năm 2015 vợ chồng làm nhà trên đất của gia đình anh C và ra ở riêng, nhưng sau đó anh C cũng không thay đổi, vẫn chơi bời nên vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn. Tháng 7/2017 chị bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ cho đến nay. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị xin được ly hôn anh C.
Về con C: Chị và anh C có 01 người con C là Nguyễn Thị Trà My, sinh ngày 28/7/2012, hiện đang ở với chị. Ly hôn, chị xin nuôi cháu My và không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản C, tài sản riêng, công nợ, công sức: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Đối với Anh Nguyễn Mạnh C là bị đơn, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng anh đều cố tình lẩn tránh, vắng mặt không có lý do. Qua xác minh tại UBND xã Vân Trục và gia đình anh C; thì hiện nay anh C đi làm ăn xa nhưng vẫn về địa phương tại thôn Thanh Vân, xã Vân Trục. Các lần Tòa án gọi anh C, địa phương đều niêm yết thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo hòa giải theo quy định của pháp luật, nhưng anh C vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch phát biểu quan điểm: Trong quá trình giải quyết vụ án cho đến giai đoạn Hội đồng xét xử, nghị án đã thực hiện đầy đủ, trình tự đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Xử cho chị L được ly hôn anh C; giao cho chị L nuôi con C và xác nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con; tài sản C, tài sản riêng, công nợ, công sức do chị L không đề nghị giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ vào đơn khởi kiện, tài liệu kèm theo đơn khởi kiện của chị Diệp Thị L và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án. Xác định đây là quan hệ tranh chấp Hôn nhân và gia đình “Xin ly hôn và nuôi con C”. Bị đơn là anh Nguyễn Mạnh C có địa chỉ tại xã Vân Trục, huyện Lập Thạch nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Lập Thạch theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần đối với anh C nhưng anh C cố tình không đến tòa. Tòa án đã tiến hành thông báo và niêm yết công khai các văn bản tố tụng tại địa phương nơi anh C cư trú, nhưng anh C vẫn cố tình vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đương sự theo điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Cuộc hôn nhân giữa chị Diệp Thị L và anh Nguyễn Mạnh C là cuộc hôn nhân hợp pháp, xây dựng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Quá trình vợ chồng C sống do bất đồng quan điểm sống, nên từ đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, anh C đánh chị L, vợ chồng không quan tâm đến nhau. Tháng 7/2017, chị L bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ cho đến nay.
Xét tình cảm vợ chồng giữa chị L và anh C mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh C cố tình vắng mặt không đến Toà án để giải quyết việc chị L có đơn xin ly hôn anh, như vậy phần nào thể hiện anh C không có nguyện vọng và biện pháp hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ. Do vậy đề nghị của chị L xin ly hôn anh C là có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình nên được chấp nhận.
Xét đề nghị về việc nuôi con C của chị L là có căn cứ, bởi lẽ hiện nay anh C thường xuyên đi làm xa ít có điều kiện chăm sóc con C. Do vậy cần giao cho chị L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu My và xác nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con C.
Tài sản C, tài sản riêng, công nợ, công sức: Chị L không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh C vắng mặt nên không có lời khai và đề nghị của anh, khi nào anh có mặt và yêu cầu về con C, tài sản C, tài sản riêng, công nợ, công sức thì giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.
Về án phí: Chị Diệp Thị L phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu án phí, lệ phí Tòa án;
Xử: Cho chị Diệp Thị L được ly hôn anh Nguyễn Mạnh C.
Giao cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu Nguyễn Thị Trà My, sinh ngày 28/7/2012. Xác nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con C mà không ai được cản trở.
Về tài sản C, tài sản riêng, công nợ, công sức: Chị L không đề nghị giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị Diệp Thị L phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai số: AA/2016/0004792 ngày 28/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án chị L có mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Anh C vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày giao nhận bản án hoặc niêm yết tại UBND nơi cư trú của người vắng mặt.
T/M: HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà
| Nơi nhận: - VKSND huyện Lập Thạch - THA Lập Thạch. - UBND xã Vân Trục - Các đương sự - Lưu hai bản. | Trần Hữu Lực |