vanban.org

Bản án 33/2018/DS-ST — Tranh chấp về Hứa thưởng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Văn T về việc yêu cầu bị đơn ông Dương Văn Th trả tiền huê hồng (tiền thưởng) 3.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Bùi Văn T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền số 0005138 ngày10/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hồng Ngự, ông T đã nộp đủ tiền án phí dân sự … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về Hứa thưởng — án dân sự — "tranh chấp dân sự về hợp đồng hứa thưởng"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Văn T về việc yêu cầu bị đơn ông Dương Văn Th trả tiền huê hồng (tiền thưởng) 3.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HỒNG NGỰ
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/ 2018/DS-ST
Ngày: 28-9-2018
V/v “ Tranh chấp dân sự về
hợp đồng hứa thưởng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thống.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Thủy Nông;

2. Ông Trương Thanh Phong.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân Mai-Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Diệp Văn Hiếu Nhỏ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hồng Ngự, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 145/2018/TLST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2018, về Tranh chấp dân sự về hợp đồng hứa thưởng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2018/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Bùi Văn T, sinh năm 1960 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: ấp A, xã B, huyện H, Đồng Tháp.

2. Bị đơn: Ông Dương Văn Th, sinh năm 1954(có mặt)

Địa chỉ cư trú: khóm B, phường Th, thị xã H, Đồng Tháp.

3. Người làm chứng: Nguyễn Văn Kh M, sinh năm 1969 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: ấp B, xã A, huyện H, Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Bùi Văn T trình bày:

Ngày 03/6/2018 ông và lính ông Tư M tên ông Hai H có gặp ông Th để mua cá giống, giữa ông và ông Th có bàn bạc: ông sẽ tìm người cho ông Th bán được cá với giá 22.000đ/kg thì ông Th cho ông tiền huê hồng là 150đồng/kg, việc

- 1 -

thỏa thuận giữa 2 bên chỉ thỏa thuận miệng, không có làm giấy tờ và chỉ có ông và ông Th biết. Ngày 4/6/2018 ông điện cho ông Th trả giá cá là 21.000đồng/kg (do ông Tư M kêu ông điện trả giá vậy) nhưng ông Th không đồng ý bán. Sau đó ông Th và ông Tư M điện bàn bạc thì giữa ông Th và ông Tư M thống nhất giá cá là 22.000đ/kg. Sau khi ông Th và ông M mua bán cá xong, ông M có cho ông tiền huê hồng là 3.000.000đ (Ba triệu đồng), riêng phần tiền huê hồng mà ông Th hứa cho ông thì ông Th chưa trả cho ông. Nay ông khởi kiện yêu cầu ông Dương Văn Th trả cho ông số tiền mà ông Th hứa chi huê hồng (tiền thưởng) một tấn cá là 150.000đồng x 21 tấn = 3.150.000đ (Ba triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).

*Bị đơn ông Dương Văn Th trình bày:

Ông thừa nhận giữa ông với ông Bùi Văn T có thỏa thuận: nếu ông T tìm người bán cá được cho ông với giá 22.000đồng/kg ông sẽ cho ông T tiền huê hồng (tiền thưởng) là 150đồng/kg. Ngày 04/6/2018, ông T đưa người vào hầm xem cá và ông T có điện cho ông nói cá bị gan thận mủ kêu hạ giá tiền xuống giá cá còn 21.000đ/kg, nên ông không đồng ý bán và cũng không lấy tiền cọc của ông T, nên xem như thỏa thuận giữa ông với ông T không thành. Số cá của ông sau đó ông đã bán được cho ông M, việc ông bán cá được cho ông M không liên quan đến việc ông T tìm mối bán. Vì vào ngày 01/6/2018, ông có điện cho ông M kêu bán cá, nhưng 2 bên chưa thỏa thuận xong về giá, đến ngày 04/6/2018 thì ông M điện cho ông thỏa thuận là nếu ông M tìm người bán cá được cho ông thì ông sẽ cho ông M tiền huê hồng (tiền thưởng) là 1.000đồng/kg, 2 bên thống nhất và sau đó ông M tìm được người cho ông bán được cá với giá 22.000đồng/kg và ông có cho ông M tiền huê hồng là 21.000đồng. Do đó việc ông T yêu cầu ông trả tiền huê hồng (tiền thưởng) 3.150.000đồng ông không thống nhất vì việc ông bán được cá không liên quan gì đến ông T.

*Người làm chứng Nguyễn Văn Kh M trình này :

Ông là người mua cá của ông Th. Vào ngày 01/6/2018 ông có điện cho anh Th để hỏi mua cá giống vì anh Th là bạn bè với ông, nhưng việc thỏa thuận chưa đi đến thống nhất. Khoảng 02 ngày sau, anh T có điện cho ông nói là có một hầm cá ở trên Hồng Ngự kêu bán với giá là 22.000đồng/kg nhưng không có nói là cá của ai. Sau đó ông mới biết là cá trùng kèo với ông đã thỏa thuận với anh Th, nên ông với anh Th mới thỏa thuận với nhau về việc mua bán chớ không có nhờ ông T dẫn mối. Khi mua cá xong, vì nghĩ tình nghĩa nên ông có cho ông T số tiền là 3.000.000đ, còn việc ông T cho rằng ông điện chỉ đạo ông T gặp ông Th trả giá cá 21.000đ/kg là không đúng vì giữa ông và ông Th đã giao dịch mua bán trước khi ông T cho hay.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bùi Văn T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

- 2 -

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng hứa thưởng và bị đơn ông Dương Văn Th đang cư trú tại khóm B, phường Th, thị xã H, Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Ngự theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung vụ án:

Ông Bùi Văn T yêu cầu ông Dương Văn Th trả cho ông số tiền mà ông Th hứa chi huê hồng (tiền thưởng) một tấn cá là 150.000đồng x 21 tấn = 3.150.000đ (Ba triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).

Xét yêu cầu của nguyên đơn ông Bùi Văn T yêu cầu bị đơn ông Dương Văn Th trả tiền huê hồng (tiền thưởng) 3.150.000đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về nội dung thỏa thuận giữa ông T với ông Th là ông T tìm được người bán cá được cho ông Th với giá 22.000đồng/kg thì ông Th sẽ cho tiền huê hồng (tiền thưởng) cho ông T là 150.000đồng/ kg là có thật, vì việc này cả ông T và ông Th đều thừa nhận.

Tuy nhiên trong quá trình thực hiện việc thỏa thuận, ông T không tìm người bán được cá cho ông Th với giá 22.000đồng/kg. Như vậy ông T đã không thực hiện được công việc mà ông đã thỏa thuận với ông Th và việc ông Th bán cá được cho ông M không liên quan đến ông T, mà là do giữa ông Th với ông M tự thỏa thuận mua bán với nhau, điều này phù hợp với lời khai của người làm chứng ông Nguyễn Văn Kh M. Do đó xét thấy việc ông T khởi kiện yêu cầu ông Th trả tiền huê hồng (tiền thưởng) 3.150.000đồng là không có căn cứ nên không chấp nhận.

Tại phiên tòa đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Ngự phát biểu ý kiến về nội dung giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bùi Văn T, xét đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ Luật tố tụng dân sự, Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc các đương sự phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định, theo đó:

Nguyên đơn ông Bùi Văn T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm trên yêu cầu không được chấp nhận (số tiền 3.150.000đồng) là 300.000đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm ông T đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền số 0005138 ngày 10/7/2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Hồng Ngự, ông T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Bị đơn ông Dương Văn Th không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

- 3 -

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 39, Điều 147 và Điều 271của Bộ Luật tố tụng Dân sự, Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Văn T về việc yêu cầu bị đơn ông Dương Văn Th trả tiền huê hồng (tiền thưởng) 3.150.000đồng (Ba triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Nguyên đơn ông Bùi Văn T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền số 0005138 ngày10/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hồng Ngự, ông T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kề từ ngày tuyên án (ngày 28/9/2018).

Cỡ chữ