vanban.org

Bản án 33/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Kiến Thụy, TP. Hải Phòng Tuyên án 06/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn D phạm tội "Cố ý gây thương tích"

Xử phạt: Nguyễn Văn D 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 16/8/2017. Tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 138 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn D phạm tội "Cố ý gây thương tích"
  • Căn cứ chính? Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 42 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2017/HSST
Ngày 06 - 12 - 2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Giang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đặng Thị Đôi

2. Ông Bùi Đình Ngát

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thị Phượng - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện K tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Uy - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện K đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2017/HSST ngày 23 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn D, sinh ngày 05/7/1985 tại Hải Phòng

Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12, con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1954, con bà Phạm Thị Á, sinh năm 1956; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: 01 tiền án Bản án số 147/HSST ngày 20/7/2006, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 09 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; bị cáo bị tạm giữ ngày 16/8/2017; tạm giam ngày 21/8/2017; có mặt.

* Những người tham gia tố tụng khác:

- Bị hại: Anh Bùi Văn C, sinh năm 1988; trú tại: Thôn K1, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Bùi Thị L, sinh năm 1991; trú tại: Thôn K1, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Văn D bị Viện Kiểm sát nhân dân huyện K truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 16/8/2017 Nguyễn Văn D cùng bạn là Hoàng Văn P đến cổng nhà anh Bùi Văn H ở thôn K1, xã T, huyện K yêu cầu anh H trả D chiếc điện thoại trước đó H mượn của D, nhưng H chưa trả, dẫn đến việc cãi nhau giữa D, H và ông Bùi Văn H1 là bố đẻ của H. Thấy vậy, anh Bùi Văn C, sinh năm 1988 là cháu của ông H1, nhà ở gần đó đi đến nói “Chúng mày ở đâu mà đến đây chửi chú tao” thì anh P can ngăn. D thấy bực tức, rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16M2 - 4793 đi đến nhà chị Phạm Thị L ở gần đó mượn 01 con dao bằng kim loại, mục đích để đánh anh C. D để con dao ở võng xe và điều khiển xe mô tô quay lại nhà ông H1 cách 2 m từ vị trí anh C đang ngồi nói chuyện với anh P ở cổng nhà ông H1 thì dừng xe lại. D đi vào chửi anh C “Vừa mày chửi đe đánh ai”, anh C chửi lại. D chạy ra vị trí dựng xe mô tô lấy con dao để ở võng xe quay lại chém 01 nhát vào cẳng tay phải anh C. D và anh C tiếp tục vật lộn với nhau, làm anh C bị xây xước da ở cẳng tay phải và ngón tay trái thì mọi người can ngăn, đã giữ được D cùng con dao và trình báo cơ quan Công an. Anh C bị thương tích được cấp cứu tại Bệnh viện huyện K và điều trị tại Bệnh viện V, Hải Phòng.

Tại kết luận giám định pháp y số 443/2017/TgT ngày 17/8/2017 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận: Vết thương mặt sau 1/3 giữa trên cẳng tay phải dài 07 cm. Vết thương xước da mặt sau 1/3 trên cẳng tay phải dài 03 cm. Vết xây xước da mặt trong đốt 1 ngón I bàn tay trái dài 01 cm. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do vết thương cẳng tay phải gây nên là 15%, các thương tích trên có đặc điểm do vật sắc tác động trực tiếp gây nên. Còn hai vết xây xước da nhỏ không đủ lớn đánh giá tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.

Tại cơ quan điều tra Nguyễn Văn D khai nhận: Sáng ngày 16/8/2017 D đi cùng anh Hoàng Văn P, sinh năm 1990 ở thôn L, xã T, huyện K đến nhà ông H1 để đòi điện thoại mà Bùi Văn H (là con ông H1) đã mượn từ trước, nhưng H chưa trả. D đã chửi H thì ông H1 ra chửi H và D. Lúc này, anh C ở gần nhà ông H1 cũng ra chửi D. D thấy bực tức đã đi xe mô tô đến nhà chị L mượn 01 con dao, để quay lại đánh anh C. D để con dao ở võng xe và điều khiển xe mô tô quay lại nhà ông H1 cách vị trí C đang ngồi nói chuyện với anh P ở cổng nhà ông H1 khoảng 2 m thì dừng xe lại. D đi vào chửi anh C, anh C chửi lại và đứng dậy định đánh D. D lấy dao ở võng xe mô tô đuổi đánh anh C, anh C bỏ chạy và lấy được chiếc gậy dài khoảng 1 m, đường kính khoảng 5 cm để đánh lại D nhưng bị D dùng dao chém vào cánh tay phải anh C. D và anh C tiếp tục vật lộn với nhau tại sân nhà ông H1, làm anh C bị xây xước da ở cẳng tay phải và ngón tay trái thì mọi người can ngăn giữ được D và con dao. Sau đó, cơ quan Công an đến giải quyết.

Về vật chứng: Con dao bằng kim loại màu đen dài 40 cm, bản dao rộng 7 cm, phần cán dao bằng kim loại dài 11 cm, phần lưỡi dài 29 cm mà cơ quan điều tra thu giữ là của gia đình chị Phạm Thị L. Chiếc gậy anh C dùng để đánh lại D, ông H1 đã vứt đi nên không thu giữ được.

Tại bản Cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 22/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2, Điều 104 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn D khai nhận toàn bộ nội dung vụ án như cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tại phiên toà vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và có sự thay đổi không đề nghị tình tiết tăng nặng đối với bị cáo Nguyễn Văn D về tình tiết có tính chất côn đồ do người bị hại tại phiên tòa khai có chửi bị cáo D nên dẫn đến đánh nhau. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 104; Điều 33; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D với mức án từ 03 năm tù đến 04 năm tù; về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Bùi Văn C bị D chém gây thương tích phải điều trị tại bệnh viện hết 14.000.0000 đồng và chi phí ngoài hết khoảng 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng nhưng anh C không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì về dân sự nên không đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết; về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 42, Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Trả lại chị Phạm Thị L 01 con dao bằng kim loại màu đen dài 40 cm, bản dao rộng 7 cm, phần cán dao bằng kim loại dài 11 cm, phần lưỡi dài 29 cm (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27 tháng 11 năm 2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện k); đối với 01 chiếc gậy anh C dùng để đánh lại D, ông H1 đã vứt đi cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu hồi được nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết; về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

XÉT THẤY

Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn D tại phiên toà phù hợp với nội dung vụ án nêu trên thể hiện: Vào khoảng 08 giờ ngày 16/8/2017 tại trước cổng nhà anh Bùi Văn H ở thôn K1, xã T, huyện K bị cáo Nguyễn Văn D đã có hành vi dùng dao chém vào cẳng tay phải của anh Chiều và gây thường tích cho anh Bùi Văn C. Tại kết luận giám định pháp y số 443/2017/TgT ngày 17/8/2017 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận: Vết thương mặt sau 1/3 giữa trên cẳng tay phải dài 07 cm. Vết thương xước da mặt sau 1/3 trên cẳng tay phải dài 3 cm. Vết xây xước da mặt trong đốt 1 ngón I bàn tay trái dài 01 cm. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do vết thương cẳng tay phải gây nên là 15%, các thương tích trên có đặc điểm do vật sắc tác động trực tiếp gây nên. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội "Cố ý gây thương tích" theo quy định tại khoản 2 (điểm a khoản1) Điều 104 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng, tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát rút đề nghị đối với tình tiết phạm tội có tính chất côn đồ (do người bị hại có chửi bị cáo D) theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, không những xâm phạm sức khỏe, gây hoang mang lo sợ, ảnh hưởng lớn tinh thần của người khác mà còn gây mất trật tự trị an xã hội.

Xét về nhân thân của bị cáo Nguyễn Văn D có 01 tiền án chưa được xóa. Lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự. Qua đó cho thấy bị cáo là người có nhân thân xấu, mặc dù đã được giáo dục cải tạo nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện bản thân nay lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy cần phải xét xử bị cáo mức án nghiêm bắt cách ly khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Song cũng xét tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự : Anh Bùi Văn C không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì về dân sự, xét yêu cầu của anh C là tự nguyện nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 con dao bằng kim loại màu đen dài 40 cm, bản dao rộng 7 cm, phần cán dao bằng kim loại dài 11 cm, phần lưỡi dài 29 cm bị cáo dùng làm công cụ phạm tội, thuộc sở hữu hợp pháp của chị Phạm Thị L, chị L đề nghị xin lại con dao để gia đình tiếp tục sử dụng, xét đề nghị của chị L là chính đáng nên Hội đồng xét xử trả lại 01 con dao bằng kim loại trên cho chị L.

Trong vụ án này, anh Hoàng Văn P không bàn bạc, không tham gia cùng D gây thương tích cho anh C; chị Phạm Thị L không biết D mượn dao gây thương tích cho anh Bùi Văn C. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn D phạm tội "Cố ý gây thương tích"

Áp dụng khoản 2 (điểm a khoản 1), Điều 104; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Nguyễn Văn D 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 16/8/2017.

Tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Áp dụng Điều 42, Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả lại chị Phạm Thị L 01 con dao bằng kim loại màu đen dài 40 cm, bản dao rộng 7 cm, phần cán dao bằng kim loại dài 11 cm, phần lưỡi dài 29 cm (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27 tháng 11 năm 2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K).

Bị cáo phải chịu 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần dân sự của bản án có liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ