vanban.org

Bản án 33/2017/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị M khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với chị Nguyễn Thị Thu H.

Buộc chị H có nghĩa vụ trả cho bà M số tiền vốn vay 10.000.000 (mười triệu) đồng Kể từ ngày bà Nguyễn Thị M có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị Nguyễn Thị Thu H không chịu trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng chị Nguyễn Thị Thu H phải trả cho bà Nguyễn Thị M số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tươn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị M-Nguyễn Thị Thu H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị M khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với chị Nguyễn Thị Thu H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 463 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN BIÊN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2017/DS-ST
Ngày: 21-7-2017
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thiên Di.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Khắc Hòa;

Bà Phạm Thị Nhinh.

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Trúc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tới – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 49/2017/TLST-DS ngày 03 tháng 3 năm 2017 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2017/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 6 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2017/QĐST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1964; địa chỉ cư trú: Tổ 03, ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1978; địa chỉ cư trú: Tổ 04, ấp H, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khở i kiệ n ngày 28 tháng 02 năm 2017 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:

Vào ngày 08/10/2016 âm lịch, chị Nguyễn Thị Thu H vay của bà số tiền 10.000.000 đồng, hẹn trong thời hạn 01 tháng sẽ trả lại, có viết biên nhận nợ, không thỏa thuận lãi suất. Mục đích chị H vay tiền là để đóng hụi và xoay sở trong gia đình.

Nay bà M yêu cầu chị H có nghĩa vụ trả số nợ vốn vay 10.000.000 đồng và lãi suất từ ngày vay đến nay theo quy định của pháp luật.

Bị đơn chị Nguyễn Thị Thu H không đến Tòa án để giải quyết vụ án, không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị M vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn chị Nguyễn Thị Thu H vắng mặt, không có ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Về thủ tục thụ lý, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự tham gia tố tụng đã đảm bảo tuân thủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự

Về nội dung vụ án: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án xác định yêu cầu chị H trả số tiền nợ vay cho bà M là có đủ cơ sở để xem xét chấp nhận. Quá trình thu thập chứng cứ, bà M rút một phần khởi kiện về tiền lãi suất nên đình chỉ một phần. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M yêu cầu chị H trả số tiền nợ vốn vay 10.000.000 đồng; đình chỉ một phần yêu cầu về lãi suất. Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị M có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn chị Nguyễn Thị Thu H đã được triệu tập đúng quy định nhưng vắng mặt, vì vậy căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự nêu trên.

. Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M yêu cầ u chị Nguyễn Thị Thu H hoàn trả số tiền vay là có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ chứng cứ bà M cung cấp là ‘Giấy mượn tiền” ngày 08/10/2016 có chữ ký nhận nợ của chị H. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, chị H không thực hiện nghĩa vụ chứng minh, không đến để làm rõ nội dung tranh chấp cũng như tính xác thực của giấy nợ. Do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M, buộc chị H hoàn trả số tiền vốn vay 10.000.000 đồng.

. Về lãi suất: Bà Nguyễn Thị M yêu cầu tính lãi suất từ ngày 28/02/2017 đến ngày 23/5/2017 số tiền là 400.000 đồng. Đến ngày 05/7/2017 bà M có đơn rút một phần yêu cầu tính lãi suất, do đó đình chỉ một phần về tiền lãi suất.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí, chị Hà phải chịu 500.000 đồng án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị M khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với chị Nguyễn Thị Thu H.

Buộc chị H có nghĩa vụ trả cho bà M số tiền vốn vay 10.000.000 (mười triệu) đồng

Kể từ ngày bà Nguyễn Thị M có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị Nguyễn Thị Thu H không chịu trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng chị Nguyễn Thị Thu H phải trả cho bà Nguyễn Thị M số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Đình chỉ một phần yêu cầu chị Nguyễn Thị Thu H trả số tiền lãi suất 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 500.000 (năm trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị M số tiền tạm ứng án phí đã nộp 250.000 (hai trăm năm mươi nghìn) đồng theo biên lai thu số 0003899 ngày 03/3/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ