- Tranh chấp gì? án hình sự — "Âu Dương N1 - giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐKN-VKS-P2 ngày 28/10/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng; Chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Âu Dương N1 .
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự và xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 123 Bộ luật Hình sự
| TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 329/2026/HSPT Ngày: 23/4/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Đình Lực.
Các Thẩm phán:
Ông Ngô Tự Học;
Ông Phạm Việt Hà.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Duy Khánh, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Nga, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 23 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng. Tòa thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm, công khai, vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 808/2025/TLPT-HS ngày 17 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo Âu Dương Nghị . Do có kháng cáo của bị cáo, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 283/2025/HS-ST ngày 17 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
* Bị cáo có kháng cáo, bị kháng nghị: Âu Dương N1, sinh năm 1990 tại Bắc Ninh; giới tính: Nam; nơi Đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã C, huyện G, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã C, tỉnh Bắc Ninh); nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Âu Dương N2 và bà Lại Thị N3; có vợ và 03 con (con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2021); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/01/2025 đến ngày 21/01/2025 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo do Tòa án chỉ định: Luật sư Vũ Thị Tú M - Văn phòng sư T, thuộc Đoàn sư thành phố H. Vắng mặt và gửi luận cứ bào chữa cho bị cáo.
2. Bị hại: Anh Vũ Văn H, sinh năm 1991 (đã chết). Người đại diện hợp pháp của bị hại (không có kháng cáo): Chị Vũ Thị Q, sinh năm 1990; địa chỉ tại: Thôn C, xã T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
3. Người có quyền lợi liên quan: Chị Vũ Thị Q, sinh năm 1990; Cháu Vũ Thị Lan A, sinh năm 2012; Cháu Vũ Thị Kim N4, sinh năm 2019; (Vợ và các con của bị hại) đều có địa chỉ tại: Thôn C, xã T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
4. Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị N5 (vợ bị cáo), không có kháng cáo, kháng nghị. Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án hình sự sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Âu Dương N1 và chị Nguyễn Thị N5, sinh năm 1994 kết hôn năm 2012, có 3 người con chung. N1 và chị N5 đều làm công nhân tại Công ty TNHH J tại Khu công nghiệp Q, tỉnh Bắc Ninh. Khoảng tháng 6/2024, chị N5 có quan hệ tình cảm với anh Vũ Văn H và làm cùng phân xưởng với chị N5, nên vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn. Chị N5 về nhà mẹ đẻ ở tại thôn T, xã C, huyện G, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã C, tỉnh Bắc Ninh).
Khoảng 7 giờ 20 phút ngày 15/01/2025, sau khi làm xong ca đêm, N1 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda - SH Mode, biển số 99H1 - 341.52 để về nhà, khi đi đến khu vực chân cầu B, xã V, tỉnh Bắc Ninh thì gặp chị N5 đang điều khiển xe máy đi làm, đi phía sau cách chị N5 khoảng 50m là anh H điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha - Sirius, biển số 16P1 – 8383. Nghị gọi chị N5 đứng lại để chờ anh H đến để cùng nói chuyện. Chị N5 dừng xe lại, còn anh H đi thẳng. Thấy vậy, N1 điều khiển xe máy đuổi theo anh H, mục đích yêu cầu anh H quay lại nói chuyện, nhưng anh H vẫn điều khiển xe đi về hướng phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương (nay là phường C, thành phố Hải Phòng). Khi đi đến Trạm xăng X, thuộc Tổ dân phố số A, phường P, thành phố C (nay là phường L, thành phố Hải Phòng), anh H rẽ vào Trạm xăng thì N1 đi cùng vào. Khi anh H dựng xe máy, xuống xe bỏ mũ bảo hiểm ra, N1 đi đến hỏi “Tại sao gọi đứng lại không đứng để nói chuyện với nhau” và “bây giờ chúng mày muốn như thế nào” thì H nói “Tao chẳng muốn như thế nào”. Thấy anh H nói như vậy, N1 bức xúc mở cốp xe máy lấy con dao bầu bọc trong túi nilon màu đỏ trong cốp, cầm dao tay phải chém 03 phát về phía đầu anh H, anh H dơ tay lên đỡ được và dùng mũ bảo hiểm đánh lại làm rách da chảy máu đuôi mắt trái của N1, sau đó anh H bỏ đi vào bên trong cây xăng. N1 cầm dao chạy theo, khi anh H quay lại thì N1 dùng dao đâm một phát vào vùng ngực trái của anh H. Anh H bỏ chạy được khoảng 20 mét thì ngã gục xuống, N1 đi theo một đoạn khoảng 05 mét thì quay lại cất dao vào cốp xe máy, điều khiển xe rời khỏi hiện . Khi N1 đi về đến khu vực xã C, tỉnh Bắc Ninh thì bị lực lượng Công an bắt giữ, thu giữ con dao gây án. Hậu quả: Anh Vũ Văn H bị chết tại hiện trường.
Biên bản khám nghiệm hiện trường, thể hiện: Hiện trường là khu vực Trạm xăng X thuộc đường L, K, phường P, thành phố C (nay là phường C, thành phố Hải Phòng), phát hiện tử thi anh Vũ Văn H có đám mầu nâu nghi máu; 01 điện thoại di động ốp nhựa màu đen; 01 mũ bảo hiểm. Tại cây xăng có 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius biển số 16P1-8383. Quá trình khám nghiệm hiện trường thu giữ hình ảnh Camera an ninh tại Cây xăng.
* Kết luận giám định tử thi số 07/KL-KTHS, ngày 19/01/2025, Phòng K Công an tỉnh H, xác định:
- Anh Vũ Văn H bị 01 vết thương vùng ngực trái làm đứt hoàn toàn xương sườn số 7 và đứt một phần xương sườn số 6. Vết thương thông khoang ngực, rách mặt sau thất trái thông buồng tim. Vết thương làm rách cơ hoành trái, thủng mặt trên bờ cong lớn dạ dày. Chảy máu khoang ngực trái. Phổi, gan, lách không tổn thương có màu nhợt nhạt. Tổn thương da nông vùng mặt, hai tay và hai chân. Nguyên nhân tử vong: Mất máu cấp do vết thương thấu ngực (rách cơ tim thông buồng tim, rách cơ hoành, thủng dạ dày).
- Cơ chế hình thành thương tích, vật gây thương: Vết thương vùng ngực trái có hướng từ trái qua phải, từ trên xuống dưới, do vật sắc nhọn gây nên là phù hợp; Các tổn thương vùng mặt, hai tay và hai chân là tổn thương phần mềm do vật tày gây nên là phù hợp.
- Con dao có chuôi bằng gỗ, dài khoảng 12cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 25cm, chỗ rộng nhất khoảng 6,4cm, mũi dao nhọn được Cơ quan điều tra thu giữ có thể gây nên tổn thương cơ thể của anh Vũ Văn H.
Kết luận giám định số 682/KL-KTHS ngày 14/02/2025, Viện học hình sự Bộ C, xác định: Trên con dao gửi giám định có bám dính máu người và là máu của tử thi Vũ Văn H.
Kết luận giám định số 3858/KL-KTHS ngày 30/5/2025, Viện học hình sự Bộ C, xác định: Con dao gửi giám định là dao sắc, nhọn, thuộc Phụ lục 5 “Danh mục dao có tính sát thương cao” Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
* Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H trích xuất, thu giữ hình ảnh Camera an ninh tại cây xăng X1 ghi lại hình ảnh xô xát, đánh nhau giữa Âu Dương N1 và anh H ngày 15/01/2025. Kết luận giám định số 2290/KL-KTHS ngày 08/5/2025 của V Bộ C xác định: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các tệp video gửi giám định.
* Về vật chứng vụ án được thu giữ: 01 (một) con dao, loại dao bầu có chuôi bằng gỗ, dài khoảng 12cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 25cm, chỗ rộng nhất khoảng 6,4cm, mũi dao nhọn; 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda - SH mode; màu sơn Đỏ-đen; gắn biển số 99H1 - 341.52, số khung: 0117LZ618910; số máy: JK01E0034329; 01 (một) khăn màu xanh, kích thước khoảng (80x33cm, trên khăn có bám dính chất màu nâu, nghi là máu; 01 (một) túi nilon màu đỏ; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 Ultra 5G, số imeil: 354505622510436; số imei2: 359131202510434, bên trong lắp 02 sim 0978.199.083 và 0989.135.631; 01 (một) mũ bảo hiểm xe máy, dạng mũ chùm đầu màu xanh bạc, trên mũ in chữ “MOZA HELMET-PACING”; 01 (một) kính mũ bảo hiểm màu xám đen; 01 (một) nắp kính mũ bảo hiểm bằng nhựa; 01 (một) điện thoại, ốp màu đen-vàng; phía trong vỏ điện thoại màu đỏ đen, có in nhãn hiệu REDMI, mép phía dưới màn hình bị vỡ diện (6x0,6cm; 01 (một) áo khoác, màu xanh có mũ; 01 (một) áo khoác, màu tím than; 01 (một) áo cộc tay, cổ tròn, màu be; 01 (một) quần cạp chun, màu ghi xám; mẫu máu hoàn lại sau giám định được niêm phong. Đang được quản lý tại kho vật chứng của Cơ quan CSĐT Công an thành phố H, chuyển Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng chờ xử lý.
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H (nay là thành phố Hải Phòng) đã trả lại cho chị Vũ Thị Q nhận: 01 (Một) xe máy Sirius biển số 16P1-8383; 01 đăng ký xe máy số 009555 mang tên chủ xe Nguyễn Văn Đ; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe mô tô số B0279704.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo N1 tác động gia đình bồi thường cho đại diện bị hại 150.000.000 đồng; đến nay, chị Vũ Thị Q (vợ bị hại) không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm về dân sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 283/2025/HS-ST ngày 17 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Âu Dương N1 phạm tội “Giết người”.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 39 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Âu Dương N1: Tù chung thân, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/01/2025.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm quyết định về xử lý vật chứng, án phí, thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 28/10/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐKN-VKS-P2, với nội dung đề nghị xét xử phúc thẩm theo hướng giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng hình phạt tù có thời hạn.
Ngày 27/10/2025, bị cáo Âu Dương N1 có đơn kháng cáo giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Đại diện Viện công tố giữ nguyên nội dung quyết định kháng nghị.
Bị cáo Âu Dương N1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm quy kết; bị cáo không có mục đích tước đoạt tính mạng của bị hại, do không kiềm chế được bản thân mới tấn công bị hại, nhận vì bị hại quan hệ bất chính với vợ bị cáo, đã được cả 2 bên gia đình khuyên nhủ nhưng không được. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội, nên đã tích cực tác động gia đình đến gia đình bị hại thăm hỏi, bồi thường thiệt hại, được gia đình bị hại ghi nhận; hoàn cảnh gia đình khó khăn, hiện bố mẹ bị cáo phải nuôi 3 con nhỏ của bị cáo, có nhiều thành tích trong hoạt động thể thao. Vì vậy, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bào chữa gửi luận cứ cho bị cáo Âu Dương N1 trình bày: Nhất trí về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, 03 con còn nhỏ và phạm tội là do nguyên nhân bị hại có quan hệ về tình cảm bất chính với vợ của bị cáo. Vì vậy, đề nghị chấp nhận kháng nghị và kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt và xử phạt bị cáo mức hình phạt tù có thời hạn là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ kết quả điều tra, lời khai nhận của bị cáo, lời khai của những người có liên quan, người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để xác định hành vi phạm tội của bị cáo như cấp sơ thẩm đã xét xử và quy kết bị cáo Âu Dương N1 phạm tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật. Sau khi phân tích, đánh giá nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết mới tại phiên tòa; xem xét kháng cáo và kháng nghị, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, chấp nhận kháng và sửa bản án sơ thẩm theo hướng: xử phạt bị cáo Âu Dương N1 với mức án 20 năm tù.
Căn cứ các tài liệu và chứng cứ trong hồ sơ, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, trình bày của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm các cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Kháng nghị trong hạn luật định nên được chấp nhận. Đối với kháng cáo của bị cáo, tại biên bản làm việc ngày 28/01/2026, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xác định, không nhận được Đơn kháng cáo của bị cáo Âu Dương N1, do Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H gửi đến. Tại đơn ngày 24/02/2026 của bị cáo Âu Dương N1 trình bày, ngày 27/10/2025 bị cáo đã có đơn kháng cáo và đã chuyển đơn để gửi Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng nhưng đơn bị thất lạc. Đồng thời Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H cũng đã cung cấp bản sao y Đơn kháng cáo của bị cáo, trong đó thể hiện ngày 27/10/2025 bị cáo có đơn kháng cáo giảm nhẹ hình phạt. Ngày 28/10/2028, Giám thị Trại Tạm giam số 2 – Công an thành phố H xác nhận đã nhận được đơn kháng cáo bị cáo. Xét thấy, bị cáo đã có đơn kháng cáo ngày 27/10/2025, do yếu tố khách quan dẫn đến thất lạc đơn kháng cáo, xét đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, nên đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Âu Dương N1 đã thừa nhận hành vi như Tòa án cấp sơ thẩm quy kết, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm; phù hợp lời khai của những người làm chứng; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định, biên bản khám nghiệm hiện trường, hình ảnh thu giữ từ camera, vật chứng đã thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm đủ căn cứ kết luận: Do mâu thuẫn tình cảm vợ chồng, ghen tuông, nên khoảng 07 giờ 30 phút ngày 15/01/2025, tại Cây xăng X, thuộc dân cư A, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương (nay là phường C, thành phố Hải Phòng), bị cáo Âu Dương N1 đã dùng 01 con dao bầu sắc, nhọn đâm 01 nhát trúng vào vùng ngực anh Vũ Văn H xuyên rách cơ tim thông buồng tim, rách cơ hoành, thủng dạ dày. Hậu quả: Anh H bị chết do mất máu cấp. Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Âu Dương N1 phạm tội “Giết người”, với tình tiết định khung: “Có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo, kháng nghị. Hội đồng xét xử xét thấy:
Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, có tính chất côn đồ, tước đoạt tính mạng người khác trái pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, gây đau thương, mất mát không thể bù đắp cho gia đình bị hại. Do vậy, cần có mức hình phạt thỏa đáng để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng, nhân thân tốt, quá trình điều tra, truy tố, xét xử thể hiện thái độ ân hận, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại với số tiền 150.000.000 đồng, được đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo còn có thành tích xuất sắc trong phong trào thể dục thể thao, đạt Huy chương bạc và đồng giải vật toàn quốc, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách tại điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và xử phạt với mức án tù chung thân có phần nghiêm khắc.
Tại cấp phúc thẩm, ngoài tình tiết giảm nhẹ đã được cấp sơ thẩm áp dụng. Bị cáo thực sự ăn nănhối cải về hành vi phạm tội, đại diện bị hại là chị Vũ Thị Q tiếp tục có đơn đề nghị giảm nhẹ cho bị cáo, các tài liệu do gia đình bị cáo cung cấp: đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, Giấy chứng nhận thuộc hộ cận nghèo, hiện 03 con nhỏ của bị cáo do vợ bỏ đi làm ăn xa, hiện bố mẹ đẻ của bị cáo phải trực tiếp nuôi dưỡng, Giấy chứng nhận hiến máu nhân đạo, Giấy xác nhận và Phiếu thu thể hiện nhiều năm đóng góp tiền ủng hộ các phong trào tại địa phương, bố đẻ của bị cáo đã từng phục vụ trong quân đội, biên lai nộp án phí sơ thẩm. Mặt khác, trong vụ án này nguyên nhân dẫn đến bị cáo N1 thực hiện hành vi phạm tội một phần do bị hại cũng có lỗi, cụ thể do chị Nguyễn Thị N5 (là vợ bị cáo) có quan hệ tình cảm nam, nữ trái pháp luật với anh Vũ Huy H1, lời khai của chị N5 tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm đã thừa nhận, sự việc đã được hai bên gia đình khuyên bảo nhưng chị N5 không nghe, chị N5 đã bỏ về gia đình bố mẹ đẻ ở, sáng ngày 15/01/2025, chị N5 và anh H1 vẫn đi với nhau. Bị cáo N1 đã gọi cả hai lại để nói chuyện nhưng anh H1 không dừng lại mà điều xe bỏ đi, chị N5 nói bận đến giờ đến Công ty làm việc. Bị cáo bực tức đuổi theo khi đi đến Cây xăng X, thì giữa bị cáo và anh H1 xô xát đánh nhau, bị cáo lấy dao bầu có sẵn để trong cốp xe máy chém anh H1, nhưng bị anh H1 cầm mũ bảo hiểm đánh lại, làm bị cáo bị thương tích chảy máu đôi mắt. Khi cả hai lùi vào trong cây xăng, thì bị cáo đâm 01 nhát vào vùng ngực trái anh H1 làm anh H1 bị tử vong. Những tình tiết nêu trên, cấp phúc thẩm thấy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng.
Xét nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ tại cấp sơ thẩm, tình tiết giảm nhẹ mới tại cấp phúc thẩm, điều kiện hoàn cảnh gia đình, 03 con nhỏ đang phải nhờ ông bà nội nuôi dưỡng, bị cáo có nhiều thành tích xuất sắc được tặng nhiều Bằng khen, bị hại có một phần lỗi. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy có căn cứ chấp nhận kháng cáo, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, cần sửa bản án sơ thẩm và giảm một phần hình phạt đối với bị cáo, thể hiện sự khoan hồng nhưng vẫn đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa có cơ sở và được chấp nhận.
Bị cáo Âu Dương N1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐKN-VKS-P2 ngày 28/10/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng; Chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Âu Dương N1 .
2. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 283/2025/HS-ST ngày 17 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, cụ thể như sau:
Tuyên bố bị cáo Âu Dương N1 phạm tội “Giết người”.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Âu Dương N1: 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/01/2025.
3. Bị cáo Âu Dương N1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
(Ghi nhận bị cáo đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số 0001645 ngày 25/11/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).
4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VCT&KSXXPT tại Hà Nội; - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND TP Hải Phòng; - THADS thành phố Hải Phòng; - Trại tạm giam số 2 - CATP Hải Phòng; - Bị cáo (qua Trại tạm giam số 2); - Lưu HSVA, P.HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã kys) Đặng Đình Lực |