vanban.org

Bản án 329/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 22/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh G phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh G 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/8/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh G - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 329/2023/HS-ST
Ngày: 22 – 12 – 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐTHUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Lê Văn Công.

2/ Bà Trần Ngọc Phƣơng.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa, Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Ngân- Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 344/2023/TLST- HS ngày 23 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 330/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh G, sinh năm 1992 tại tỉnh Bình Dƣơng; nơi thƣờng trú: C, khu phố B, phƣờng L, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị Tuyết N; bị cáo chƣa có vợ, con;

Tiền án: Ngày 13/7/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Thuận An xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 193/2020/HSST ngày 13/7/2020. Ngày 08/10/2021 chấp hành xong hình phạt tù theo Giấy chứng nhận chấp hành xong hình án phạt tù số 355/GCN ngày 08/10/2021, đã thực hiện nghĩa vụ đóng án phí hình sự sơ thẩm.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 28/4/2016, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) T ra Quyết định số 90/2016/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng. Đến ngày 27/4/2017 chấp hành xong theo Quyết định số 93/2017/QĐ-TA ngày 27/4/2017 miễn chấp hành thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại.

- Ngày 03/4/2018, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) T ra Quyết định số 17/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 20 tháng, đến ngày 18/9/2019 chấp hành xong theo Giấy chứng nhận số 331/GCN-CS ngày 18/9/2019.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07 tháng 8 năm 2023 cho đến nay.

Bị cáo có yêu cầu xét xử vắng mặt.

Bị hại: Bà Nguyễn Thị G1, sinh năm 1960; nơi thƣờng trú: B38, khu phố B, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.

- Ngƣời làm chứng: Ông Cao Quốc V, sinh năm 1968. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Nguyễn Thanh G là đối tƣợng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, có tiền án về hành vi trộm cắp tài sản. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 07/8/2023, Nguyễn Thanh G đi bộ đến khu vực phƣờng B, thành phố T tìm tài sản của ngƣời dân để sơ hở để trộm bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi ngang qua căn nhà tại địa chỉ số B khu phố B, phƣờng B, thành phố T, Bình Dƣơng thì G thấy cửa cổng không đóng, bên trong trƣớc cửa nhà có dựng 01 (một) xe đạp điện hiệu Martin 107 màu đen – đỏ của bà Nguyễn Thị G1, bên cạnh là 01 (một) chiếc đôn gốm sứ hình con voi màu xanh ngọc không có ngƣời trông coi nên đã đi vào bên trong dùng tay trái bật công tắt mở xe rồi di chuyển xe lùi về phía sau để dẫn xe ra bên ngoài thì bị ông Cao Quốc V là hàng xóm đối diện nhà bà G1 phát hiện, truy hô và cùng gia đình bà G1 bắt giữ đối tƣợng giao Công an phƣờng B lập hồ sơ chuyển cho Cơ quan điều tra thụ lý theo thẩm quyên.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) xe đạp điện hiệu Martin 107 màu Đen – đỏ.

- 01 (một) chiếc đôn gốm sứ hình con voi màu xanh ngọc.

Tại Biên bản định giá và Bản kết luận định giá tài sản ngày 16 tháng 8 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kệt luận: 01 (một) xe đạp điện hiệu Martin 107 màu Đen – đỏ có giá 3.000.000 đồng (ba triệu đồng); 01 (một) chiếc đôn gốm sứ hình con voi màu xanh ngọc có giá 500.000 (năm trăm nghìn đồng).

Bản Cáo trạng số 337/CT-VKS-TA ngày 22 tháng 11 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh G về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh G từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) xe đạp điện hiệu Martin 107 màu Đen – đỏ và 01 (một) chiếc đôn gốm sứ hình con voi màu xanh ngọc là của bị hại Nguyễn Thị G1, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại tài sản trên cho bà Nguyễn Thị G1.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã đƣợc nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thƣờng nên không đề nghị xem xét.

- Quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Tại đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị cáo ăn năn, hối cải và xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Bị cáo có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, xét thấy, đây là yêu cầu tự nguyện của bị cáo, việc vắng mặt của bị cáo và các đƣơng sự không gây trở ngại cho việc xét xử, căn cứ điểm c, d khoản 2 Điều 290, Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo và các đƣơng sự.

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo và các đƣơng sự không có ý kiến hoặc không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thanh G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo trƣớc Tòa. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại, ngƣời làm chứng, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo Nguyễn Thanh G là đối tƣợng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, có tiền án về hành vi trộm cắp tài sản.

Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 07/8/2023, tại địa chỉ khu phố B, phƣờng B, thành phố T, Bình Dƣơng, Nguyễn Thanh G đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 (một) xe đạp điện nhân hiệu Martin 107 màu đen – đỏ trị giá 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) của bà Nguyễn Thị G1, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân đƣợc pháp luật bảo vệ. Trong vụ án này, Nguyễn Thanh G là ngƣời trực tiếp thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo Nguyễn Thanh G về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phƣơng nơi xảy ra vụ án. Bị cáo là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị trừng trị nhƣng vì động cơ tham lam, tƣ lợi mà bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã từng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, đã bị xử phạt và cải tạo nhƣng không lấy đó làm bài học, tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức xem thƣờng pháp luật. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Lời đề nghị mức hình phạt của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thƣờng nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Điều 136, điểm c, d khoản 2 Điều 290; Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh G 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/8/2023.

2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh G phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ