- Tranh chấp gì? án hành chính — "Khởi kiện QĐ hành chính"
- Tòa quyết gì? Xử: 1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn HG về việc yêu cầu hủy các quyết định:
- Căn cứ chính? Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Luật Phí và lệ phí; Điều 157 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ___________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 329 /2020/HC-ST. Ngày: 01/12/2020. V/v: Khiếu kiện các Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thúy và bà Công Thị Minh Lợi
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Bảo Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Trần Chí Thành – Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, tiến hành xét xử công khai vụ án hành chính sơ thẩm đã thụ lý số 164/2020/TLST-HC ngày 17 tháng 6 năm 2020 khiếu kiện yêu cầu hủy: Quyết định số 3687/QĐ-UBND, Quyết định số 3748/QĐ-UBND ngày 27/07/2018 của UBND quận BTL về việc thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và cưỡng chế thu hồi đất đối với ông Nguyễn HG và Quyết định số 1879/QĐ-UBND ngày 22/4/2019 của Chủ tịch UBND quận BTL về việc giải quyết khiếu nại lần 1. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 236/QĐXX-ST ngày 02/11/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số
/2020/QĐST-HC ngày 16/11/2020, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Ông Nguyễn HG, sinh năm 1962; (Có mặt)
Địa chỉ: Tổ 33, cụm 5, phường XL, quận TH, thành phố Hà Nội
Người bị kiện: UBND quận BTL, thành phố Hà Nội;
Chủ tịch UBND quận BTL, thành phố Hà Nội;
Trụ sở : Tòa nhà CT6A, Khu đô thị KM, đường KM, phường PD, quận BTL, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: bà Nguyễn Thị Nắng Mai – Phó Chủ tịch UBND quận BTL. (Vắng mặt tại phiên tòa)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND quậnBTL: Ông Cao Ngọc Hạnh – Cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường UBND quậnBTL. (có mặt)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. UBND phường XĐ; trụ sở làm việc: Số 418 đường XĐ, phường XĐ, quận BTL, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Trung Tuyển – Chủ tịch UBND phường XĐ. (Vắng mặt tại phiên tòa)
2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1978; (Vắng mặt)
3. Chị Nguyễn Thị HA, sinh năm 2000; (Vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của bà Thêm, chị Anh: Ông Nguyễn HG.
Đều trú tại: địa chỉ: Tổ 33, cụm 5, phường XL, quận TH, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ông Nguyễn HG trình bày:
2
Trước năm 1993 gia đình ông Nguyễn HG có thuê 01 ki ốt với diện tích 24m của Ủy ban nhân dân xã XĐ nay phường XĐ, quận BTL, thành phố Hà Nội đứng tên ông Nguyễn Duy Trường , quá trình sử dụng gia đình ông Giang đã cải tạo thành nơi ở với tổng diện tích là 46,9 m2, gia đình ông nộp thuế sử dụng đất hàng năm theo quy định.
Tại dự án mở rộng đường Vành đai 3 (đoạn Mai Dịch – cầu Thăng Long), tổ công tác dự án đã điều tra, kiểm đếm đất đai, tài sản gắn liền với đất và lập Biên bản số 236/BB-TCT ngày 07/01/2017, thể hiện: Tổng diện tích đất thực tế đang sử dụng 46,9m2, diện tích thu hồi tại dự án 46,9m2.
Ngày 27/7/2018 UBND quận BTL đã ban hành Quyết định số 3687/QĐ- UBND thu hồi 46,9 m2 đất do ông Giang sử dụng và Quyết định số 3748/QĐ-UBND về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ đối với ông Giang. Theo đó, ông Giang được tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ là 185.474.867 đ, trong đó:
+ Hỗ trợ về đất: 149.591.200 đ gồm: Hỗ trợ 24 m2 đất sử dụng trước ngày 15/10/1993 bằng 30% đơn giá đất sản xuất kinh doanh và 08 m2 sử dụng từ sau ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 bằng 20% đơn giá đất SXKD theo vị trí 1 đường Phạm Văn Đồng quy định tại Quyết định số 96/2014/QĐ-UBND ngày 29/12/2014 của UBND thành phố Hà Nội và không hỗ trợ diện tích 14,9m2 đất sử dụng sau ngày 01/7/2004.
+ Hỗ trợ công trình xây dựng: 19.939.667 đồng (toàn bộ công trình xây dựng được tính hỗ trợ bằng 10% đơn giá xây dựng);
+ Các khoản bổ thường, hỗ trợ khác: 15.944.000 (bồi thường chi phí di chuyển và hỗ trợ ổn định đời sống;
+ Về tái định cư: Sẽ phê duyệt bổ sung tái định cư nếu đủ điều kiện được xét tái định cư.
Do không đồng ý với các quyết định của Ủy ban nhân dân quận BTL nên ông Giang đã khởi kiện đến Tòa án đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội:
- Hủy Quyết định số 3687/QĐ-UBND và Quyết định số 3748/QĐ-UBND ngày 27/7/2018 của UBND quận BTL v/v thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ đối với ông Nguyễn HG để thực hiện dự án Mở rộng đường Vành đai 3 (đoạn Mai Dịch – Cầu Thăng Long) trên địa bàn quận BTL;
- Buộc UBND quận BTL phải:
+ Bồi thường, hỗ trợ phần diện tích đất bị thu hồi để thực hiện dự án bằng đơn giá 100% đơn giá đất ở bị giải phóng mặt bằng theo quy định của pháp luật;
+ Bồi thường, hỗ trợ phần tài sản là nhà, tài sản khác gắn liền với đất bị phá dỡ giải tỏa mặt bằng để thực hiện dự án bằng 100% đơn giá xây dựng theo quy định của pháp luật;
+ Hỗ trợ bố trí căn hộ tái định cư.
Lý do khởi kiện, ông Giang cho rằng các quyết định trên đều không đánh giá
đúng nguồn gốc đất, mục đích sử dụng đất, quá trình quản lý sử dụng đất của gia đình ông, dẫn đến không bồi thường hỗ trợ về đất ở, công trình xây dựng trên đất, hỗ trợ tái định cư theo đúng quy định pháp luật, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông, cụ thể:
- Đánh giá sai nguồn gốc đất, không bồi thường hỗ trợ về đất ở cho hộ gia
đình, nguồn gốc đất của gia đình là được UBND xã XĐ cho thuê đất từ năm 1991, chỉ ký một hợp đồng thuê 05 năm, sau đó ăn ở ổn định mà không ký thêm bất cứ một hợp đồng nào nữa, không phải là đất nông nghiệp do UBND xã XĐ quản lý.
Quan điểm Người bị kiện là UBND và Chủ tịch quận BTL:
Thực hiện chỉ đạo của Thành ủy Hà Nội, UBND thành phố Hà Nội về việc
triển khai dự án đầu tư mở rộng đường Vành đai 3 (đoạn Mai Dịch - Cầu Thăng Long), Hà Nội và các quy định pháp luật, UBND quận BTL đã thành lập Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, thành lập tổ công tác dự án, giao Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng quận BTL phối hợp với các đơn vị liên quan thực hiện công tác thu hồi đất và công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, trong đó có diện tích 46,9m2 do ông Nguyễn HG đang quản lý sử dụng bị thu hồi.
- Theo hồ sơ quản lý đất đai lưu tại UBND phường XĐ thì diện tích đất bị thu
hồi ở thửa đất số 1, tờ bản đồ số 42, Bản đồ đo vẽ năm 1994 tại xã XĐ, gia đình ông Giang đang sử dụng có nguồn gốc là đất nông nghiệp do UBND xã XĐ quản lý. Thửa đất này được hình thành và được sử dụng làm các bãi tập kết vật tư, vật liệu xây dựng hoặc dựng lều lán làm chỗ ở của người lao động khi thực hiện dự án xây dựng đường cao tốc Thăng Long (nay là đường Phạm Văn Đồng) và cầu Thăng Long. Khoảng trước năm 1993, UBND xã XĐ và HTX nông nghiệp XĐ ký hợp đồng cho các hộ gia đình, cá nhân thuê đất hoặc chấp thuận cho phép tiếp tục sử dụng diện tích đất thuê trên cơ sở đơn xin phép sử dụng tạm thời diện tích đất thuê của các hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh và khi Nhà nước sử dụng đến thì phải thu dọn toàn bộ tài sản và trả lại mặt bằng.
Căn cứ giấy tờ do người sử dụng đất cung cấp và hồ sơ quản lý đất đai lưu tại UBND phường, UBND phường XĐ đã xác nhận trong tổng diện tích 46,9m2 đất thu hồi tại dự án thể hiện như sau:
+ 24m2 đất người sử dụng đất đã sử dụng ổn định vào mục đích sản xuất kinh doanh từ thời điểm trước ngày 15/10/1993 và sử dụng ổn định vào mục đích sản xuất kinh doanh, kết hợp để ở từ sau ngày 01/7/2004 đến nay.
+ 8m2 đất người sử dụng đất đã sử dụng ổn định vào mục đích sản xuất kinh doanh từ sau ngày 15/10/1993 và sử dụng ổn định vào mục đích sản xuất kinh doanh kết hợp để ở từ sau ngày 01/7/2004 đến nay.
+ 14,9m2 đất người sử dụng đất đã tự sử dụng ổn định vào mục đích sản xuất kinh doanh và kết hợp để ở từ sau ngày 01/7/2004 đến nay.
Trên cơ sở xác nhận nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của UBND phường XĐ đối với ông Nguyễn HG và căn cứ quy định pháp luật hiện hành, UBND quận BTL đã ban hành quyết định thu hồi 46,9m2 đất có nguồn gốc là đất nông nghiệp do UBND xã XĐ (nay là phường XĐ) quản lý; Ông Nguyễn HG có hộ khẩu thường trú tại phường XĐ, quận BTL sử dụng để thực hiện dự án Mở rộng đường Vành đai 3 (đoạn Mai Dịch
- Cầu Thăng Long) trên địa bàn quận BTL tại Quyết định số 3687/QĐ-UBND ngày 27/7/2018.
Như vậy, UBND phường XĐ đã xác nhận nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và UBND quận BTL đã ban hành quyết định thu hồi đất đối với ông Nguyễn HG là phù hợp với quy định tại Điều 3 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 và điểm 3 khoản 1 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ.
* Phương án hỗ trợ đất như sau:
- 24,0m2x16.999.000đồng/m2x30%=122.392.800 đồng
- 8,0m2x16.999.000đồng/m2x20%=27.198.400 đồng
- 14,9m2 đất không xét hỗ trợ
UBND quận BTL phê duyệt phương án hỗ trợ đất đối với ông Nguyễn HG tại Quyết định số 3748/QĐ-UBND ngày 27/7/2018 là đúng với chính sách đã được UBND thành phố Hà Nội chấp thuận tại mục 1 phần II Thông báo số 304/TB-UBND ngày 22/8/2016.
* Hỗ trợ công trình xây dựng trên đất:
Do công trình xây dựng của ông Nguyễn HG được tạo lập trên diện tích đất đã có kết luận của cơ quan có thẩm quyền là vi phạm pháp luật đất đai nên diện tích các công trình xây dựng gắn liền với đất nằm trong chỉ giới thu hồi đất đã được UBND quận BTL phê duyệt hỗ trợ bằng 10% đơn giá xây dựng công trình mới theo cùng chủng loại.
UBND quận BTL phê duyệt phương án hỗ trợ công trình xây dựng trên đất đối với ông Nguyễn HG tại Quyết định số 3748/QĐ-UBND ngày 27/7/2018 là đúng với quy định tại khoản 3 Điều 14 Quyết định số 10/2017/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 của UBND thành phố Hà Nội.
* Các khoản bồi thường, hỗ trợ khác:
Theo Giấy xác nhận của Công an phường XĐ đối với ông Nguyễn HG cho thấy: Tại địa chỉ thu hồi đất có 01 hộ với 04 nhân khẩu đang trực tiếp sinh sống. UBND quận BTL đã phê duyệt các khoản bồi thường, hỗ trợ khác như sau:
- Bồi thường chi phí di chuyển tài sản trong phạm vi thành phố Hà Nội theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Quyết định số 10/2017/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 của UBND thành phố Hà Nội.
- Hỗ trợ ổn định đời sống theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Quyết định số 10/2017/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 của UBND thành phố Hà Nội.
Như vậy, phương án các khoản bồi thường, hỗ trợ khác đối với ông NguyễnHG đã được UBND quận BTL phê duyệt tại Quyết định số 3748/QĐ-UBND ngày 27/7/2018 là đúng với quy định pháp luật tại thời điểm phê duyệt.
* Về tái định cư:
Ông Nguyễn HG không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở và có nhà ở, đất ở khác trên địa bàn phường XĐ nên UBND quận BTL không phê duyệt phương án bán căn hộ chung cư nhà tái định cư tại Quyết định số 3748/QĐ-UBND ngày 27/7/2018 là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 75 và khoản 1 Điều 79 Luật Đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ và khoản 1, 2 Điều 7 Quyết định số 10/2017/QĐ-UBND ngày 29/03/2017 của UBND thành phố Hà Nội.
Tuy nhiên, ông Nguyễn HG có hộ khẩu thường trú tại phường XL, quận TH và được UBND phường XL xác nhận gia đình ông Nguyễn HG có đất ở tại nơi hộ khẩu thường trú theo Văn bản số 201/UB-ĐCXD ngày 17/7/2018. Do vậy, ông Nguyễn HG không đủ điều kiện được xét mua căn hộ tái định cư theo chính sách đã được UBND thành phố Hà Nội chấp thuận tại Văn bản số 406/TB-VP ngày 28/12/2018.
UBND quận BTL đã ban hành quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất đối với ông Nguyễn HG là đúng với chỉ đạo của UBND thành phố Hà Nội.
Căn cứ quy định pháp luật và từ những phân tích, tổng hợp nêu trên cũng như người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản không cung cấp thêm bất cứ giấy tờ, tài liệu nào khác. Do vậy, UBND quận BTL và Chủ tịch UBND quận BTL giữ nguyên các quyết định hành chính đã ban hành đối với ông Nguyễn HG địa chỉ TDP Tân Xuân 5, phường XĐ, quận BTL khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án Mở rộng đường Vành đai 3 (đoạn Mai Dịch - Cầu Thăng Long) trên địa bàn quận BTL.
Chủ tịch và UBND quận BTL đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của ông
Giang, giữ nguyên các Quyết định hành chính trên.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Quan điểm của Ủy ban nhân dân phường XĐ: Theo hồ sơ quản lý đất đai lưu
tại UBND phường XĐ thì diện tích đất bị thu hồi ở thửa đất số 1, tờ bản đồ số 42, Bản đồ đo vẽ năm 1994 tại xã XĐ, gia đình ông Giang đang sử dụng có nguồn gốc là đất nông nghiệp do UBND xã XĐ quản lý. Thửa đất này được hình thành và được sử dụng làm các bãi tập kết vật tư, vật liệu xây dựng hoặc dựng lều lán làm chỗ ở của người lao động khi thực hiện dự án xây dựng đường cao tốc Thăng Long (nay là đường Phạm Văn Đồng) và cầu Thăng Long. Khoảng trước năm 1993, UBND xã XĐ và HTX nông nghiệp XĐ ký hợp đồng cho các hộ gia đình, cá nhân thuê đất hoặc chấp thuận cho phép tiếp tục sử dụng diện tích đất thuê trên cơ sở đơn xin phép sử dụng tạm thời diện tích đất thuê của các hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh và khi Nhà nước sử dụng đến thì phải thu dọn toàn bộ tài sản và trả lại mặt bằng.
Căn cứ giấy tờ do người sử dụng đất cung cấp và hồ sơ quản lý đất đai lưu tại UBND phường, UBND phường XĐ đã xác nhận trong tổng diện tích 46,9m2 đất thu hồi tại dự án thể hiện như sau:
+ 24m2 đất người sử dụng đất đã sử dụng ổn định vào mục đích sản xuất kinh doanh từ thời điểm trước ngày 15/10/1993 và sử dụng ổn định vào mục đích sản xuất kinh doanh, kết hợp để ở từ sau ngày 01/7/2004 đến nay.
+ 8m2 đất người sử dụng đất đã sử dụng ổn định vào mục đích sản xuất kinh doanh từ sau ngày 15/10/1993 và sử dụng ổn định vào mục đích sản xuất kinh doanh kết hợp để ở từ sau ngày 01/7/2004 đến nay.
+ 14,9m2 đất người sử dụng đất đã tự sử dụng ổn định vào mục đích sản xuất kinh doanh và kết hợp để ở từ sau ngày 01/7/2004 đến nay.
Trên cơ sở xác nhận nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của UBND phường XĐ đối với ông Nguyễn HG và căn cứ quy định pháp luật hiện hành, UBND quận BTL đã ban hành quyết định thu hồi 46,9m2 đất có nguồn gốc là đất nông nghiệp do UBND xã XĐ (nay là phường XĐ) quản lý; Ông Nguyễn HG có hộ khẩu thường trú tại phường XĐ, quận BTL sử dụng để thực hiện dự án Mở rộng đường Vành đai 3 (đoạn Mai Dịch
- Cầu Thăng Long) trên địa bàn quận BTL tại Quyết định số 3687/QĐ-UBND ngày 27/7/2018.
Như vậy, UBND phường XĐ đã xác nhận nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và UBND quận BTL đã ban hành quyết định thu hồi đất đối với ông Nguyễn HG là phù hợp với quy định tại Điều 3 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 và điểm 3 khoản 1 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ. UBND phường XĐ đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do ông Nguyễn HG là đại diện ủy quyền (gồm: bà Nguyễn Thị T, chị Nguyễn Thị HA) thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn HG.
Tại phiên tòa: Người khởi kiện giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc UBND quận BTL phải xác định diện đất của gia đình ông Giang là đất ở, trên cơ sở đó ban hành lại Quyết định thu hồi đất và lên phương án bồi thường hồ trợ về đất ở và mức hỗ trợ 100% công trình xây dựng trên đất cùng các chính sách hỗ trợ tái định cư, hỗ trợ ổn định đời sống, để đảm bảo quyền và lợi ích theo đúng quy định pháp luật cho gia đình ông Giang.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tại phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán; Hội đồng xét xử tại phiên tòa: đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Người khởi kiện và người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được thực hiện đầy đủ các quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 55, 56, 57, 58, việc ủy quyền tham gia tố tụng của đương sự được thực hiện theo quy định tại Điều 60 Luật TTHC.
Quan điểm giải quyết vụ kiện: Căn cứ Luật Đất đai 2013; Nghị định 47/2014/NĐ-CP; điểm a khoản 2 Điều 193; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Bác yêu cầu khởi kiện của ông Giang: Hủy Quyết định số 3687/QĐ-UBND và Quyết định số 3748/QĐ-UBND ngày 27/7/2018 của UBND quận BTL về việc thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ đối với ông Nguyễn HG để thực hiện dự án Mở rộng đường Vành đai 3 (đoạn Mai Dịch - Cầu Thăng Long) trên địa bàn quận BTL.
- Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên Người khởi kiện có nghĩa vụ nộp án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại Điều 348 Luật Tố tụng hành chính 2015 và Điều 32 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
* Về tố tụng
[ 1] Về thẩm của Tòa án: Việc ông Nguyễn HG có đơn khởi kiện đề nghị Hủy Quyết định số 3687/QĐ-UBND và Quyết định số 3748/QĐ-UBND ngày 27/7/2018 của UBND quận BTL, thành phố Hà Nội. Đây là quyết định Hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai. Do đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 3, Điều 30, khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính thì Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền
[2] Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện vắng mặt lần thứ hai. Căn cứ khoản 2 Điều 157 của Luật tố tụng hành chính, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử vắng mặt.
Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 09/1/2020 ông Giang gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đối với yêu cầu Hủy Quyết định hành chính số 3687; Quyết định hành chính số 3748 ngày 27/7/2018 của Ủy ban nhân dân quận BTL; Quyết định số 1879/QĐ-UBND ngày 22/4/2019 về giải quyết khiếu nại lần 1của Chủ tịch UBND quận BTL: Như vậy việc khởi kiện của ông Giang xác định trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
* Về nội dung:
. Về thẩm quyền ban hành quyết định: Quyết định số 3687/QĐ-UBND ngày 27/7/2018 về việc thu hồi đất; Quyết định số 3748/QĐ-UBND ngày 27/7/2018 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ của UBND quận BTL, thành phố Hà Nội là đúng thẩm quyền theo quy đinh tại theo quy định tại khoản 2 Điều 66 và điểm a khoản 2 Điều 69 Luật Đất đai.
Quyết định 1879/QĐ-UBND ngày 22/4/2019 về việc giải quyết khiếu nại của chủ tịch UBND quận BTL, thành phố Hà Nội, là đúng trình tự, thủ tục, theo quy định của pháp luật và đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 18, 31 Luật khiếu nại.
Về nội dung ban hành quyết định
Đối với yêu cầu xác định toàn bộ phần diện tích đất bị thu hồi để thực hiện dự án bằng đơn giá 100% đơn giá đất ở bị giải phóng mặt bằng theo quy định của pháp luật.
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và Đơn xin phép sử dụng tạm thời diện tích đất thuê (sau khi đã thanh lý hợp đồng) của ông Nguyễn Duy Trường, được UBND xã XĐ xác nhận và cung cấp cho Tòa án.
- Ông Nguyễn Duy Trường được UBND xã XĐ cho thuê ki ốt số 19 chợ Tân Xuân. Sau khi thuê, ông Trường đã xây dựng cửa hàng bằng nhà cấp 4 diện tịch là 32 m2.
- Ngày 25/4/2000, ông Trường có Đơn xin phép sử dụng tạm thời diện tích đất thuê (sau khi đã thanh lý hợp đồng), trong Đơn có nội dung: ông Trường là người thuê đất của UBND xã tại ki ốt 19 chợ Tân Xuân, đến nay đã hết thời hạn, ông hoàn toàn nhất trí trả lại phần đất tại khu vực ki ốt số 19, chợ Tân Xuân. Trên diện tích hợp đồng, ông Trường đã xây dựng nhà cấp 4 với diện tích 32m2. Do nhu cầu sản xuất, kinh doanh, ông Trường đề nghị UBND cho ông được sử dụng tiếp và nộp lệ phí theo quy định. Khi nào địa phương và Nhà nước sử dụng đến, ông Trường xin thu dọn và trả lại mặt bằng, cam kết không xây dựng cơi nới, đơn của ông Trường được UBND xã XĐ xác nhận “đồng ý cho anh Trường sử dụng tiếp theo đơn đề nghị và nộp tiền sinh lợi đất theo quy định từ 01/01/2000 đến 31/12/2001”. Theo Biên lai thu tiền số 000013, quyển số 11313, ông Trường đã nộp 960.000 đồng. Lý do nộp: Hợp đồng tạm sử dụng đất lưu không 02 năm (2000 – 2001), diện tích 32m2.
Ngày 25/4/2000, ông Trường có Giấy chuyển nhượng lại diện tích 32m2 này (ki ốt tại số 19 chợ Tân Xuân) cho ông Giang
Ngày 13/12/2018, UBND phường XĐ đã tiến hành lấy ý kiến của khu dân cư để xác định nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất đã xác định được thời điểm ông Trường thuê đất làm ki ốt trước ngày 15/10/1993, diện tích ban đầu thuê là 24m2, ông Giang đã trình bày diện tích thuê ki ốt là 24m2. Như vậy, trong tổng diện tích đất 46,9m2 do hộ ông Giang đang sử dụng có: 24m2 đất có thời điểm bắt đầu sử dụng từ trước 15/10/1993; 08m2 có thời điểm sử dụng từ sau ngày 15/10/1993 đến trước 01/7/2004 và 14,9m2 thời điểm bắt đầu sử dụng từ sau ngày 01/7/2004.
Bên cạnh đó, việc UBND xã XĐ cho thuê đất đã được Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội kết luận tại Bản kháng nghị số 603/KSTTPL ngày 20/8/1994 là vi phạm Luật Đất đai năm 1987 và yêu cầu phá dỡ công trình xây dựng, bàn giao mặt bằng cho UBND xã XĐ quản lý. Tại các Thông báo số 246/TB-UBND ngày 31/8/2011, Kết luận số 09/KL-UBND ngày 29/6/2016 của UBND thành phố Hà Nội và Kết luận số 386/KL-UBND ngày 27/11/2014 của UBND quận BTL về việc giải quyết tố cáo của công dân đã nêu rõ phần diện tích đất do UBND xã XĐ và HTX nông nghiệp XĐ cho các hộ gia đình, cá nhân thuê đang sử dụng là đất do UBND phường quản lý và yêu cầu UBND phường XĐ phải thực hiện nghiêm Bản kháng nghị số 603/KSTTPL ngày 20/8/1994 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội. Tuy nhiên tại các thời điểm nêu trên, UBND xã XĐ đã không xử lý dứt điểm theo đúng kết luận của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên các hộ gia đình, cá nhân vẫn tiếp tục sử dụng.
Việc ông Giang yêu cầu xác định toàn bộ diện tích đất bị thu hồi có cùng thời điểm sử dụng trước ngày 15/10/1993 cũng như xác nhận toàn bộ diện tích 46,9m2 đất bị thu hồi để thực hiện dự án là đất ở và bồi thường theo đơn giá đất ở là không có căn cứ.
Để đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất, UBND quận BTL đã đề nghị UBND Thành phố xem xét chính sách hỗ trợ về đất các các trường hợp thuê đất của xã XĐ trước đây và đã được UBND Thành phố chấp thuận theo thông báo số 304/TB-UBND ngày 22/8/2016. Do đó, UBND quận BTL ban hành Quyết định 3748/QĐ-UBND ngày 27/7/2018 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ đối với ông Giang là đúng quy định của pháp luật.
Đối với yêu cầu bồi thường, hỗ trợ phần tài sản là nhà, tài sản khác gắn liền với đất bị phá dỡ giải tỏa mặt bằng để thực hiện dự án bằng 100% đơn giá xây dựng theo quy định của pháp luật
Công trình xây dựng của ông Giang trên diện tích đất năm trong chỉ giới GPMB để thực hiện Dự án đã được xác định là vi phạm pháp luật đất đai. Vì vậy, Quyết định số 3748/QĐ-UBND ngày 27/7/2018 của UBND quận BTL v/v phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ đối với ông Giang đã tính hỗ trợ công trình bằng 10% đơn giá xây dựng công trình là đúng quy định tại khoản 3 Điều 14 Quyết định số 10/2017/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 của UBND thành phố Hà Nội. Việc ông Giang yêu cầu bồi thường công trình bằng 100% đơn giá xây dựng công trình là không có cơ sở.
Đối với yêu cầu hỗ trợ bố trí căn hộ tái định cư
Hồ sơ thể hiện diện tích đất của ông Giang đang sử dụng bị thu hồi là đất do UBND phường quản lý, theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 7 Quyết định số 10/2017/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 của UBND thành phố Hà Nội thì gia đình ông Giang đã có nơi ở nên không được xét mua căn hộ tái định cư.
Như vậy, việc ông Giang khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 3687/QĐ-UBND và Quyết định số 3748/QĐ-UBND ngày 27/7/2018 của UBND quận BTL về việc thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và yêu cầu bồi thường đối với diện tích đất đã bị thu hồi và tài sản trên đất bằng đơn giá 100/% đối với UBND quận BTL, thành phố Hà Nội là không có căn cứ nên không được chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên ông Nguyễn Hoàng Giang phải nộp tiền án phí hành chính sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 204 và Điều 206 Luật Tố tụng hành chính.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 3, khoản 1Điều 30, Điều 32, khoản 1 Điều 158; Khoản 1, Điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 194; Điều 204; Điều 206; Khoản 1 Điều 348 Luật Tố tụng hành chính; điểm a khoản 2 Điều 66, Điều 67, Điều 69; Điều 74, Điều 75, Điều 82 Luật Đất đai năm 2013; Điều 17 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai 2013; Luật Phí và Lệ phí; Nghị quyết 326/2016 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: 1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn HG về việc yêu cầu hủy các quyết định:
- Quyết định số 3687/QĐ-UBND ngày 27/07/2018 của Ủy ban nhân dân quận BTL của về việc thu hồi đất.
- Quyết định số 3748/QĐ-UBND ngày 27/07/2018 của Ủy ban nhân dân quận BTL về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ;
- Quyết định số 1879/QĐ-UBND ngày 22/4/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận BTL về giải quyết khiếu nại.
- Bác yêu cầu khởi kiện về việc bồi thường, hỗ trợ phần diện tích đất bị thu hồi để thực hiện dự án bằng đơn giá 100% đơn giá đất ở bị giải phóng mặt; Bồi thường, hỗ trợ phần tài sản là nhà, tài sản khác gắn liền với đất bị phá dỡ giải tỏa mặt bằng để thực hiện dự án bằng 100% đơn giá xây dựng; Hỗ trợ bố trí căn hộ tái định cư.
2.Về án phí hành chính sơ thẩm, ông Nguyễn HG phải nộp 300.000đồng án phí hành chính sơ thẩm, được đối trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0020174 ngày 11 tháng 6 năm 2020 tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
3. Về quyền kháng cáo : Ông Nguyễn HG có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị kiện và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSNDTP Hà Nội - Cục THADS thành phố Hà Nội; - Các đương sự trong vụ án; - Lưu hồ sơ/ VPTA | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mai |