vanban.org

Bản án 329/2019/HSPT — Hình sự

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 18/06/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/06/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn QU phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Phan Văn QU tù Chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày 30/7/2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan văn Qu - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 329/2019/HSPT
Ngày 18 tháng 6 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Thành

Các thẩm phán:

Ông Võ Văn Khoa

Bà Đinh Ngọc Thu Hương

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Duẩn, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh,

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Cao Thị Hạnh, Kiểm sát viên, tham gia phiên tòa

Ngày 18 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành Phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 539/2018/TLPT-HS ngày 26 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo Phan Văn QU do có kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với bản án hình sự sơ thẩm số 278/2018/HSST ngày 16 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo:

Phan Văn QU, sinh năm 1992

Thường trú: Ô 3, ấp B H, xã B T, huyện Tr B, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông Phan Văn Khá và bà Cao Thị Hường; Hoàn cảnh gia đình: có vợ là bà Nguyễn Thị Bé Ngọc (đã ly hôn năm 2015) và 01 con, sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: không. Tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/7/2015 (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Minh Vũ thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trần Công T, sinh năm 1985

2. Ông Phan Văn L, sinh năm 1964

Cùng trú tại: Ô 3, ấp B H, xã B T, huyện Tr B, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 09 giờ 30 phút, ngày 30/7/2015, tại khu vực Quốc lộ 22, thuộc ấp Chánh, xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, Đội Cảnh sát giao thông Tây Bắc - Củ Chi phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an huyện Củ Chi kiểm tra bắt quả tang Phan Văn QU có hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy, thu giữ của Quốc 04 bánh chất bột màu trắng hình chữ nhật để trong 01 gói nylon màu xám, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1.404,52 gam, loại Heroin (Theo kết luận giám định số 1486/KLGĐ-H ngày 18/08/2015 và Kết luận giám định bổ sung số 34/KLGĐBS-H ngày 28/02/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hồ Chí Minh).

Quá trình điều tra, Phan Văn QU khai nhận vận chuyển ma túy cho chú là Phan Văn Lùng (Thường trú: Ô 3, ấp B H, xã B T, huyện Tr B, tỉnh Tây Ninh) từ tháng 6/2015 để hưởng tiền công. Tổng cộng Quốc đã vận chuyển ma túy cho Lùng được 3 lần, cụ thể như sau:

- Lần 1: Vào khoảng giữa tháng 6/2015, Phan Văn Lùng rủ Quốc đi qua Campuchia chơi, Quốc đồng ý. Sau đó, Quốc điều khiển xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter, biển số 70L-247.41 chở Lùng qua Campuchia chơi và Lùng gặp một người thanh niên (quốc tịch Campuchia, không rõ lai lịch). Sau đó, Quốc chở Lùng về huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, khi về Lùng cho Quốc 1.000.000 đồng tiêu xài.

- Lần 2: khoảng 7 ngày sau, Lùng tiếp tục kêu Quốc chở Lùng sang Campuchia gặp một người thanh niên người Campuchia (không rõ lai lịch) nhận 01 gói hàng mang về nhà Lùng. Sau khi về nhà, Lùng bảo Quốc đem gói hàng đến huyện Hóc Môn giao cho một thanh niên (không rõ lai lịch), giao xong về Quốc được Lùng cho 1.000.000 đồng tiêu xài.

- Lần 3: Vào khoảng 19 giờ, ngày 29/7/2015, Quốc gặp Phan Thái Nghĩa (con của Lùng) ở gần nhà, lúc này Nghĩa nói với Lùng là “Sáng sớm mai qua đi lấy hàng giao cho người ta”. Đến 7 giờ, ngày 30/7/2015, Lùng điện thoại kêu Quốc vào nhà Lùng, tại đây Lùng giao cho Quốc chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter, biển số 70L-247.41 kêu Quốc đi qua nhà Ty (là con rể Lùng, ngụ cùng ấp B H, xã B T, huyện Tr B, tỉnh Tây Ninh) nhận ma túy đi Hóc Môn giao cho khách, Quốc đồng ý. Sau đó, Quốc chạy xe qua nhà gặp Ty, Ty đưa cho Quốc 01 túi nylon chứa ma túy, Quốc nhận và treo vào baga giữa xe gắn máy chạy đến địa phận ấp Chánh, xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi thì bị kiểm tra bắt quả tang cùng vật chứng như đã nêu. Quốc khai đến lần thứ 3 thì Lùng mới nói cho Quốc biết là đi vận chuyển hàng là ma túy.

Quá trình điều tra lại, Phan Văn QU thừa nhận có 03 lần đi giao đồ cho Phan Văn Lùng nhưng không biết bên trong là gì, sau khi bị bắt Quốc mới biết là chất ma túy.

Tuy nhiên căn cứ vào lời khai của bị can Quốc trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ cùng với vật chứng thu được, nhận thấy có cơ sở xác định Phan Văn QU có hành vi vận chuyển 1.404,52 gam ma túy ở thể rắn, loại Heroin.

Ngoài ra, trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác định Quốc có đến giao gói ma túy cho Đặng Hoàng Lam (nơi ĐKTT tại: số 76 ấp 14, xã Tân Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre). Đặng Hoàng Lam khai nhận: Vào tháng 6/2015, theo yêu cầu của Nguyễn Văn Phú (HKTT tại: 232/17A Cao Thắng, Phường 12, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh) Lam có 1 lần đến gặp Quốc để nhận 01 bịch ma túy tại khu vực huyện Hóc Môn mang về giao lại cho Phú. Phú khai nhận phù hợp với lời khai của Lam. Hiện Lam và Phú đã bị khởi tố điều tra trong vụ án khác nên Cơ quan điều tra đã chuyển những tài liệu, chứng cứ có liên quan trong vụ án này để tiếp tục xử lý đối với Lam và Phú trong vụ án đã được khởi tố.

Đối với Phan Văn Lùng, Phan Thái Nghĩa và Trần Công Ty: Quá trình điều tra, Nghĩa và Ty khai không biết và không tham gia mua bán ma túy cùng với Lùng và Quốc, riêng Ty không giao xe máy và chất ma túy cho Quốc vào ngày 30/7/2015. Quốc cũng không xác định được Nghĩa có biết rõ mối quan hệ mua bán và vận chuyển ma túy của Lùng và Quốc hay không. Hiện nay, Lùng, Nghĩa và Ty đã đi khỏi địa phương chưa ghi được lời khai. Ngoài lời khai nhận của Quốc đã nhận xe máy và chất ma túy của Ty và Lùng để đi vận chuyển chất ma túy không còn chứng cứ nào khác, do đó, chưa đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Lùng, Nghĩa và Ty về hành vi “Mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy”. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra truy tìm khi nào có đủ chứng cứ sẽ xem xét xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 278/2018/HSST ngày 16 tháng 8 năm 2018, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Tuyên bố bị cáo Phan Văn QU phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 39 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Phan Văn QU tù Chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày: 30/7/2015.

- Buộc bị cáo Phan Văn QU phải nộp phạt bổ sung số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng để sung vào nhân sách Nhà nước.

- Áp dụng Điều 47; Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Buộc bị cáo nộp lại số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng tiền thu lợi bất chính để sung vào ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 29/8/2018 bị cáo Phan Văn QU kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại Quyết định kháng nghị số 44/QĐ-VKS-P1 ngày 27/8/2018 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị tăng hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phan Văn QU giữ nguyên kháng cáo và Đại diện viện kiểm sát giữ nguyên kháng nghị.

Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do mức án quá nặng, gia đình có công với Cách mạng, nhân thân tốt.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu, bị cáo bị bắt quả tang khi vận chuyển chất ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1.404,52 gam, loại Heroin. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phan Văn QU về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009, là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, khối lượng 1.404,52 gam, loại Heroin là số lượng đặc biệt lớn nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Quốc tù chung thân là chưa nghiêm nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, sửa bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo Phan Văn QU Tử hình về tội“ Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày, bị cáo Phan Văn QU làm thuê cho chú, không nghĩ là giao chất ma túy cho đến khi bị bắt, diễn biến vụ việc cho thấy bị cáo Quốc bị dụ dỗ, lôi kéo nên đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng, giữ nguyên mức án sơ thẩm đối với bị cáo Quốc.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm vì khối lượng chất ma túy là đặc biệt lớn nên không tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn QU khai nhận: Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 30/7/2015, tại khu vực quốc lộ 22, thuộc ấp Chánh, xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, Đội Cảnh sát giao thông Tây Bắc - Củ Chi phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an huyện Củ Chi kiểm tra, bắt quả tang Phan Văn QU vận chuyển 1.404,52 gam, loại Heroin là vận chuyển chất ma túy với số lượng lớn, thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Hành vi phạm tội của bị cáo xâm hại đến việc quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình quản lý trật tự an toàn xã hội, trực tiêp gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người đồng thời làm lây lan tệ nạn nghiện ngập ma túy trong xã hội và đây là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, cần phải xử lý thật nghiêm khắc mới bảo đảm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhận thân của bị cáo Phan Văn QU: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, gia đình có công với cách mạng, tự mình khai ra những lần vận chuyển ma túy lần thứ 1, lần thứ 2. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, đã xử phạt bị cáo Phan Văn QU tù Chung thân về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Quốc vì khối lượng chất ma túy vận chuyển là đặc biệt lớn nhưng xử phạt tù chung thân là chưa nghiêm. Tuy nhiên, bị cáo Phan Văn QU có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ Luật hình sự 1999 và theo lời khai của bị cáo Phan Văn QU thì bị cáo chỉ chở chú là Phan Văn Lùng đi, 2 lần đầu được Lùng cho tiền mỗi lần 1.000.000 đồng, không biết là có chất ma túy nên chưa có căn cứ xác định bị cáo phạm tội nhiều lần khi chưa bắt được Phan Văn Lùng để đối chất. Và lần này, Lùng nhờ đi giao hàng thì bị cáo biết là có chất ma túy cho thấy bị cáo bị chính chú của mình lôi kéo và hưởng lợi với số tiền được cho không đáng kể. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Phan Văn QU tù chung thân là có cân nhắc, đủ để răn đe đối với bị cáo, và bảo đảm tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng nghị về tăng hình phạt đối với bị cáo Quốc.

Xét kháng cáo của bị cáo Quốc, tại phiên tòa bị cáo Quốc xin giảm nhẹ hình phạt với lý do mức án nặng là không có cơ sở để xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo Phan Văn QU phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự;

QUYẾT ĐỊNH

- Không chấp nhận kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn QU, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn QU phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 39 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Phan Văn QU tù Chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày 30/7/2015.

Buộc bị cáo Phan Văn QU phải nộp phạt bổ sung số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

- Áp dụng Điều 47; Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Buộc bị cáo nộp lại số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng tiền thu lợi bất chính để sung vào ngân sách Nhà nước.

Bị cáo Phan Văn QU phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ