- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận y u cầu háng cáo của bà L Nguy n Thuận Ý.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 167 Luật Đất đai; Điều 168 Luật Đất đai
| T A ÁN NH N D N TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 328/2024/DS-PT Ngày: 24-6-2024 V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NH N D N TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng Nguy n Ngọc Vạng.
Các Thẩm phán:
ng Phạm Minh Tùng;
Bà Kiều Kim Xuân.
- Thư ký phiên tòa: ng Nguy n Bảo Quốc - Thư ý T a án nhân dân t nh Đồng Tháp.
- Đ i di n Vi n Ki m sát nhân dân t nh Đồng Tháp: Bà Hu nh Th Đạm - Kiểm sát vi n tham gia phi n t a.
Trong ngày 24/6/2024, tại trụ sở T a án nhân dân t nh Đồng Tháp x t xử phúc thẩm công hai vụ án thụ lý số 85/2024/TLPT-DS ngày 31 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án sơ thẩm số 59/2023/DS-ST ngày 09 tháng 11 năm 2023 của T a án nhân dân huyện Hồng Ngự b háng cáo.
Theo quyết đ nh đưa vụ án ra x t xử phúc thẩm số 324/2024/QĐ-PT ngày 06 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguy n đơn: Bà L Nguy n Thuận Ý (t n gọi hác: N), sinh ngày 18/01/1981; Đ a ch cư trú: Số B đường T, hu phố A, phường T, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ch Ý: Luật sư L Văn B; Văn ph ng Luật sư B.Đ.S; Đoàn Luật sư Thành phố H; Đ a ch : Số A đường T, phường T, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
2. B đơn: ng Nguy n Hiền Đ, sinh năm 1985; Đ a ch cư trú: Số I, Tô Ngọc V, hu phố E, phường T, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: ng Phạm Phú L, sinh ngày 13/7/1976. Đ a ch : Số E, đường C, phường A, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày 12/9/2023) (Có mặt)
Đ a ch li n hệ: Số I, đường T, phường T, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan:
3.1 Ông Hu nh Văn Đ1, sinh năm 1985; Đ a ch cư trú: Ấp P, xã P, huyện H, t nh Đồng Tháp. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
3.2 Ông Phạm Văn T, sinh năm 1970; Đ a ch cư trú: Ấp L, xã L, huyện H, t nh Đồng Tháp. (Vắng mặt)
3.3 Bà Lương Th Bích T1, sinh năm 1986; Đ a ch cư trú: Ấp L, xã L, huyện H, t nh Đồng Tháp. (Vắng mặt)
3.4 Ông Thái Thành N1, sinh năm 1985; Đ a ch cư trú: Ấp L, xã L, huyện H, t nh Đồng Tháp. (Vắng mặt)
4. Người háng cáo: Bà L Nguy n Thuận Ý là nguy n đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện 15/12/2022, trong quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Lê Nguyễn Thuận Ý, trình bày: Nguồn gốc đất tranh chấp là của ch nhận chuyển nhượng của ông Nguy n Đức T2 vào ngày 16/01/2019 ch mua với giá thực tế là 360.000.000đ nhưng hợp đồng chuyển nhượng để là 240.000.000đ do cán bộ đ a chính xã hướng dẫn ch ghi giá thấp để đóng thuế ít hơn, ch được cấp quyền sử dụng đất vào ngày 24/12/2019. Ngày 01/4/2021 ch cho vợ chồng anh Thái Thành N1 và ch Lương Th Bích T1 thu lại đất để p trứng nước, thời hạn thu 07 năm, giá thu 10.000.000đ/năm.
Vào ngày 06/01/2020 ch có vay tiền của anh Nguy n Hiền Đ, số tiền gốc 400.000.000đ, việc vay tiền hông có làm bi n nhận, lãi suất thỏa thuận 8%/tháng, thời hạn vay 03 năm, việc vay tiền hông có thế chấp tài sản nhưng anh Đ y u cầu ch ý hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với phần đất tranh chấp có diện 4.035,6m2 thuộc thửa đất số 1472, tờ bản đồ 4, đất tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện H để đảm bảo hoản vay 400.000.000đ, giá chuyển nhượng trong hợp đồng thể hiện 500.000.000đ, ch cũng thống nhất với y u cầu của anh Đ n n ch và anh Đ cùng đến Ủy ban nhân dân xã L ký tên vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số chứng thực 04/2020 quyển số I/2020-SCT/HĐ, GD ngày 06/01/2020. Sau hi ý ết hợp đồng chuyển nhượng đến ngày 10/01/2020 anh Đ mới đưa cho ch số tiền vay 400.000.000đ nhưng thực tế ch ch nhận 336.000.000đ, vì anh Đ đã trừ tiền c 32.000.000đ, tiền lãi tháng đầu 32.000.000đ n n hông đưa đủ số tiền 500.000.000đ như trong hợp đồng chuyển nhượng đã ghi hay đưa đủ số tiền vay 400.000.000đ, khi anh Đ đưa cho ch 336.000.000đ, cũng như trừ tiền c , trừ lãi tháng đầu thì hông có làm bi n nhận, hông có ai chứng iến, ch và anh Đ cũng hông làm bi n nhận thỏa thuận hi nào ch trả tiền vay cho anh Đ thì anh Đ làm thủ tục sang t n quyền sử dụng đất của thửa 1472 lại cho ch .
Sau hi vay tiền ch đóng lãi cho anh Đ được 17 tháng (từ ngày 06/01/2020 đến tháng 6/2021), lãi suất 8%/tháng, mỗi tháng đóng 32.000.000đ, thành tiền 400.000.000đ x 8%/tháng x 17 tháng = 544.000.000đ, hi đóng lãi hông có làm bi n nhận, hông có ai chứng iến. Vào tháng 6 năm 2021 do tình hình d ch bệnh phức tạp ch hông buôn bán được n n đề ngh anh Đ giảm số tiền lãi từ 8%/tháng xuống c n 3%/tháng, rồi qua d ch bệnh ch buôn bán lại được sẽ thanh toán hết tiền lãi từ tháng 7 năm 2021 đến những tháng c n thiếu nhưng anh Đ im lặng, hông phản hồi. Nghĩa là, anh Đ hông đồng ý giảm mức lãi cho ch xuống c n 3%/tháng.
Đến ngày 11/01/2022 anh Đ thông báo, chụp hình giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do anh Đ đứng t n quyền sử dụng đất đối với phần đất ch đã làm hợp đồng trước đó, để nhằm bảo đảm việc vay tiền. Sau đó, anh Đ còn hăm dọa sẽ chuyển nhượng diện tích đất của ch cho người hác hoặc thế chấp để vay tiền và anh Đ y u cầu ch phải thông báo cho vợ chồng ch T1 di dời tài sản để trả lại phần đất trống cho anh Đ, ch trả lời với anh Đ là ch cầm cố chứ hông bán đất cho anh Đ và để cho ch tiếp tục cho vợ chồng anh N1 thu đất nhưng anh Đ hông đồng ý.
Hiện diện tích đất tranh chấp anh Đ đã cho anh Đ1 thu , giá cả, thời hạn thu cụ thể như thế nào ch hông rõ. Cây trồng tr n đất gồm chuối là của anh N1, ông T. Anh Đ tự ý chặt cây trồng của anh N1, ông T nhưng hông bồi thường.
Nếu T a án chấp nhận y u cầu của ch , tuy n bố hợp đồng vô hiệu, đất thuộc về ch thì ch thống nhất như lời trình bày của anh Đ1, cho anh Đ1 hoảng thời gian hợp lý để di dời tài sản, cá trong ao xong mới lấy đất lại, anh Đ1 sau hi thu hoạch xong đợt cá đang nuôi sẽ di dời dụng cụ nuôi cá để trả đất lại cho ch . Giữa ch và anh N1, ch T1, anh Đ1, ông T hông tranh chấp hợp đồng thu đất, cây trồng tr n đất cũng như tranh chấp phần đất hiện anh N1 đang đứng t n n n hông y u cầu T a án giải quyết.
Việc ch cho rằng hai b n làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để che giấu hợp đồng vay tài sản thì có những chứng cứ sau đây: Trước hi ý hợp đồng giả cách là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với anh Đ thì ch có cho vợ chồng ch Lương Th Bích T1 thu đất để p trứng nước từ ngày 01/4/2021 với thời hạn thu là 07 năm, giá thu 10.000.000 đồng/năm. Khi ông Đ gửi tin nhắn zalo với hình giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh Đ và c n hăm dọa ch sẽ sang t n đối với diện tích đất của ch đã ý hợp đồng chuyển nhượng giả cách để vay tiền ở t nh Hậu Giang với hình thức ý hợp đồng ủy quyền để vay tiền và ch đã gửi nội dung zalo, ghi âm cho T a án. Không ai đi mua đất năm 2020 đến năm 2021 mới sang t n và từ những phân tích, chứng minh đây là ý hợp đồng giả cách là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ngoài ra, có những chứng cứ ch và anh Đ đã rất nhiều lần ý ết hợp đồng giả cách để đảm bảo các hoản vay và ch đã cung cấp cho T a, cụ thể:
Lần thứ nhất: Ký hợp đồng giả cách là hợp đồng ủy quyền được công chứng ph ng Công chứng số 5 Thành phố H chứng nhận ngày 07/11/2018, số công chứng vi n 38186 và chứng nhận ngày 19/10/2021, số công chứng 14369 thế chấp căn nhà số B đường T, KP1, phường T, quận A, Tp HCM của thửa đất số 171-1, tờ bản đồ số: 14A để vay số tiền: 3.000.000.000đ với lãi suất 8%/tháng. Sau đó, ch muốn vay tiền Ngân hàng để lãi suất thấp hơn n n ngày 19/10/2021 anh Đ căn cứ theo hợp đồng ủy quyền đã ý hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với căn nhà số B đường T, KP1, phường T, quận A, Tp HCM của thửa đất số: 171-1, tờ bản đồ số 14A cho ch để ch vay tiền Ngân hàng TMCP P, vay số tiền: 3.500.000.000đ để trả cho anh Đ.
Lần thứ hai: Ngày 09/10/2020 và ngày 09/7/2021, ch có ý hợp đồng ủy quyền cho anh Đ để cho anh Đ có toàn quyền đối với các thửa đất để cho ch vay tiền như sau: Đối với thửa đất 1046 tờ bản đồ số 09 tọa lạc tại ấp I, xã L, huyện L, t nh Hậu Giang (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản hác gắn liền với đất số CQ314495, số vào sổ cấp GCN: CS02352 được Sở Tài nguy n và Môi trường t nh H cấp ngày 04/5/2019), ch vay với số tiền 300.000.000đ với mức lãi suất 5%/tháng. Thời hạn vay: Khi nào trả tiền vay hết sẽ hủy hợp đồng ủy quyền. Đối với thửa đất 1047 tờ bản đồ số 09 tọa lạc tại ấp I, xã L, huyện L, t nh Hậu Giang (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản hác gắn liền với đất số phát hành CR16151, số vào sổ cấp GCN: CS02363 do Sở Tài nguy n và Môi trường t nh H cấp ngày 04/5/2019) ch vay với số tiền 100.000.000đ với mức lãi suất 5%/tháng, thời hạn vay hi nào trả tiền vay hết sẽ hủy hợp đồng ủy quyền.
Đối với thửa đất 1048 tờ bản đồ số 09 tọa lạc tại ấp I, xã L, huyện L, t nh Hậu Giang (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản hác gắn liền với đất số phát hành CQ31490, số vào sổ cấp GCN CS02353 do Sở Tài nguy n và Môi trường t nh H cấp ngày 045.2019) ch vay với số tiền 150.000.000đ với mức lãi suất 8% tháng. Thời hạn vay hi nào trả tiền vay hết sẽ hủy hợp đồng ủy quyền. Đến ngày 29/11/2022, ch được anh N1 là người đang thu đất của ch thông báo anh Đ đã tự ý sang t n cho vợ là ch Nguy n Th Kiều T3, CCCD số: xxxxxxxxxxxx và đã cập nhật t n ch Kiều T3 đối với các thửa đất 1046, 1047, 1048 mà ch cầm cố ở Hậu Giang vào ngày 16/11/2022 thì ch đang tố cáo hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của anh Đ ra Cơ quan điều tra. Ngoài ra, ch hông c n chứng cứ nào hác để chứng minh cho y u cầu của mình. Từ những trình bày, phân tích và di n biến tại phi n t a chứng minh ch ch ý hợp đồng giả cách là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với anh Đ.
Nay ch y u cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Ủy ban nhân dân xã L theo số chứng thực 04/2020 quyển số I/2020-SCT/HĐ,GD ngày 06/01/2020 vô hiệu, vì là hợp đồng giả cách (giả tạo) nhằm đảm bảo hoản tiền vay 400.000.000đ giữa ch và anh Đ và hủy cập nhật t n anh Đ trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản hác gắn liền với đất số CU 528564, số vào sổ cấp GCN: CS03837 được Sở Tài nguy n và Môi trường t nh Đ cấp ngày 24/12/2019 (nhưng ch Ý trình bày là ngày 30/12/2021).
Đối với số tiền vay 400.000.000đ ch thống nhất trả lại tiền gốc, thống nhất trả lãi 3%/tháng x 23 tháng = 276.000.0000đ. Nếu anh Đ hông đồng ý thì ch cũng thống nhất trả lãi cho anh Đ theo lãi suất 8%/tháng x 23 tháng = 736.000.000đ. Ch hông y u cầu T a án điều ch nh lãi suất đối với mức lãi 8%/tháng mà trước đây ch đã đóng cho anh Đ. Tại phi n t a, ch Ý thống nhất trả hoản vay gốc lãi là 1.000.000.000đ. Nếu anh Đ hông thống nhất hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu thì ch thống nhất ch và anh Đ cùng đứng t n tr n giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau này hi bán được đất, hai b n chia tiền và ch sẽ trả lại số tiền vay gốc và lãi cho anh Đ. Ch hông y u cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng, vì hợp đồng chuyển nhượng là giả cách. Nếu anh Đ đồng ý chốt lại tiền lãi là 23 tháng (tính từ tháng 5/2021 đến tháng 5/2023) là 736.000.000đ và tiền gốc là 400.000.000đ, tổng cộng là 1.136.000.000đ thì ch đồng ý thanh toán hết một lần để anh Đ làm thủ tục trả lại đất cho ch đã cầm cố cho anh Đ. Ngoài ra, không trình bày gì thêm.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 11/5/2023 bị đơn anh Nguyễn Hiền Đ, trình bày: Vào ngày 06/01/2020 ch L Nguy n Thuận Ý có chuyển nhượng cho anh phần đất có diện tích 4.035,6m2 thuộc thửa đất số 1472, tờ bản đồ 4, đất tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện H do ch Ý đứng t n quyền sử dụng đất, với giá 500.000.000đ, việc mua bán có làm hợp đồng và được Ủy ban nhân dân xã L chứng thực và anh được Sở Tài nguy n và Môi trường t nh Đ cấp quyền sử dụng đất vào ngày 30/12/2021 số vào sổ cấp GCN CS04841.
Khi giao tiền mua đất cho ch Ý thì đưa 01 lần, hông có làm bi n nhận, hông có ai chứng iến, trước hi mua đất anh có đến phần đất tranh chấp để iểm tra nhưng hông có ai chứng iến. Khi ch Ý giao đất cho anh, nghĩa là hi anh nhận phần đất đã mua là đất trống, hông gây thiệt hại về tài sản của anh N1, ch T1, có chặt chuối của ông Trọng t, hông nhớ bao nhi u cây, vì ông T trồng chuối tr n đất của anh. Anh và anh Đ1 hông tranh chấp việc thu đất, anh có biết lời hai của anh Đ1, thống nhất lời hai của anh Đ1.
Việc ch Ý trình bày có vay tiền của anh 400.000.000đ, rồi làm hợp đồng chuyển nhượng phần đất có diện tích 4.035,6m2 thuộc thửa đất số 1472, tờ bản đồ 4, đất tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện H do ch Ý đứng t n quyền sử dụng đất, với giá 500.000.000đ cho anh để đảm bảo hoản vay 400.000.000đ là hông đúng, từ trước đến nay giữa anh và ch Ý có làm ăn, inh doanh bất động sản, có mua bán qua lại thì có chuyển tiền, c n vay tiền thì hông có.
Nguy n nhân, anh và ch Ý ý hợp đồng chuyển nhượng vào ngày 06/01/2020 mà đến ngày 31/12/2021 anh mới được cấp quyền sử dụng đất là do tình hình d ch bệnh vào năm 2020, 2021, 2022 n n việc đi lại b hạn chế toàn quốc, sau hi tình hình d ch bệnh được iểm soát, giãn cách đi lại giữa các vùng miền hông c n, anh mới li n hệ Sở Tài nguy n và Môi trường t nh Đ để tiến hành làm thủ tục sang t n, cấp sổ đỏ theo quy đ nh. Tất cả giao d ch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh và ch Ý đều hợp lệ, đúng quy đ nh của pháp luật, do lúc mua bán đất c n hoang sơ, đường xá nhỏ hẹp, nay đất đã được cải tạo sạch đẹp, đường xá thoáng mát, rộng rãi, ch Ý có nhã ý muốn mua lại phần đất này với giá đã bán như trước thì anh hông đồng ý, nếu ch Ý m có nhu cầu mua lại thì anh đồng ý chuyển nhượng cho ch Ý với giá th trường là 900.000.000đ.
Nay ch Ý y u cầu tuy n bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Ủy ban nhân dân xã L theo số chứng thực 04/2020 quyển số I/2020-SCT/HĐ,GD ngày 06/01/2020 vô hiệu, vì là hợp đồng giả tạo nhằm đảm bảo hoản tiền vay 400.000.000đ giữa ch Ý và anh thì anh hông chấp nhận toàn bộ y u cầu của ch Ý. Ch Ý lúc trước mua phần đất này với giá 350.000.000đ thì làm sao cầm cố được số tiền 400.000.000đ, nếu vay tiền với lãi suất 8%/tháng thì tại sao hông đem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đi vay tiền Ngân hàng với lãi suất thấp hơn. Trường hợp, hợp đồng vô hiệu thì anh hông y u cầu T a án giải quyết hậu quả của hợp đồng, nghĩa là hông y u cầu ch Ý trả lại tiền gốc đã vay 400.000.0000đ và tiền lãi, vì thực tế ch Ý hông có vay tiền của anh hay bồi thường thiệt hại do hợp đồng vô hiệu. Ngoài ra, anh không trình bày gì thêm.
- Tại phiên tòa anh Phạm Phú L đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Hiền Đ, trình bày: Giữa anh Đ và ch Ý hông có thỏa thuận vay tiền, ch có mua bán đất. Đất tranh chấp mua bán rõ ràng, ch Ý cờ bạc nợ nần mới bán đất cho anh Đ, tại phi n t a lần đầu ch Ý nói chuyện rất sổ sàng, nói anh Đ không dám đối diện sự thật, gian lận trong hi người li n quan trong vụ án vắng mặt là b n của ch Ý. Đoạn ghi âm ch Ý xuất trình cho T a án thì đúng là giọng nói của anh Đ nhưng trong đoạn ghi âm anh Đ ch nói mua bán miếng đất ở Long An hông li n quan với đất hiện đang tranh chấp, nội dung đoạn ghi âm ch Ý hỏi nhiều câu mà anh Đ hông trả lời hay phản đối lại là do anh Đức k, hông biết cách di n đạt, trước đây gia đình anh Đ có ý đ nh chuyển nhượng lại diện tích đất tranh chấp ch Ý, vì suy nghĩ về tình cảm trước ia của hai b n nhưng do ch Ý sổ sàng n n giờ hông đồng ý bán đất lại cho ch Ý nữa, anh hông rõ lý do sao đến năm 2021 anh Đ mới làm thủ tục sang t n quyền sử dụng đất, anh hông biết anh Đ hi giao tiền mua đất cho ch Ý như thế nào, ch biết anh Đ có giao tiền mua đất, vì anh hông có chứng iến việc hai b n mua bán, anh không rõ lý do sao anh Đ chụp hình giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gởi cho ch Ý và nói sẽ đem vay tiền và bán cho người hác. Anh Đ hông chấp nhận toàn bộ y u cầu của ch Ý cũng hông đồng ý chuyển nhượng lại đất tranh chấp cho ch Ý với giá 1.000.000.000đ. Anh Đ không tranh chấp phần đất hiện anh N1 đang đứng t n, cũng hông tranh chấp gì đối với anh Đ1, ông T. Ngoài ra, anh không trình bày gì khác.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 14/4/2023 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Huỳnh Văn Đ1, trình bày: Anh hông có quan hệ bà con hay mâu thuẫn gì với ch Ý, anh Đ, anh N1, ch T1, ông T. Phần đất ch Ý và anh Đ đang tranh chấp, anh hông biết diện tích cụ thể, ch biết hơn 4.000m2 là của anh Đ, hông biết số thửa đất, tờ bản đồ, đất tọa lạc xã L. Vào ngày 01/01/2023 anh và anh Đ thỏa thuận, anh đầu tư, cải tạo, san lấp diện tích đất để chăn nuôi cá, đầu tư tổng cộng 52.000.000đ, đổi lại được sử dụng đất trong thời hạn 05 năm. Nghĩa là, hông đóng hoản tiền nào cho anh Đ. Việc anh và anh Đ thỏa thuận sử dụng đất thì ch thỏa thuận miệng, hông có làm giấy tờ, hông có ai chứng iến.
Trước hi anh sử dụng phần đất tranh chấp thì anh N1, ch T1 có thuê phần đất đang tranh chấp từ ch Ý, hông biết giá thu , thời hạn thu bao lâu. Khi anh sử dụng đất thì anh N1 đã di dời tài sản của mình đi nơi hác xong thì anh mới vào sử dụng đất, anh có trực tiếp gọi điện thoại cho anh N1 hỏi, về sử dụng đất tranh chấp n n anh N1 nói với anh “là thu được thì thu ”, vì anh N1 hông dính dấp, hông li n quan nữa, vì đất thuộc quyền sở hữu của anh Đ rồi.
Nay ch Ý y u cầu T a án hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng giữa ch Ý và anh Đ thì anh hông có tranh chấp hay ý iến gì. Nếu đất thuộc về anh Đ thì anh và anh Đ thỏa thuận, anh Đ tiếp tục cho anh sử dụng đến hết thời hạn 05 năm ể từ ngày 01/01/2023. Nếu đất thuộc về ch Ý thì anh thống nhất di dời tài sản của mình có tr n đất, để trả lại phần đất anh đã sử dụng cho ch Ý, giữ anh và anh Đ sẽ tự thỏa thuận chi phí anh đầu tư cải tạo đất. Nếu thời điểm ch Ý, anh Đ có lấy đất lại thì phải thông báo cho anh biết trước một hoảng thời gian hợp lý, để anh di dời tài sản, bán cá để giao đất cho hai b n. Anh hông y u cầu anh Đ hay ch Ý bồi thường thiệt hại đối với chi phí anh đã đầu tư vào phần đất hai b n đang tranh chấp. Ngoài ra, anh hông ý iến hay y u cầu nào hác.
Bi n bản đ nh giá tài sản ngày 14/4/2023: Giá tr đất đang tranh chấp: 500.000.000đ; Giá tr cây trồng tr n đất trồng: 06 bụi chuối mỗi bụi 04 cây sắp cho trái của ông Thái Thành N1 có giá 30.000đ/cây; 10 bụi chuối mỗi bụi gồm 04 cây sắp cho trái của ông Phạm Văn T có giá 30.000đ/cây; Giá tr tài sản tr n đất là dụng cụ chăn nuôi cá của anh Hu nh Văn Đ1: Ch Ý, anh Đ, anh Đ1 hông tranh chấp các dụng cụ chăn nuôi cá của anh Đ1 nên không yêu cầu Hội đồng đ nh giá đ nh giá. Ch Ý, anh Đ, anh Đ1 cùng trình bày nếu đất thuộc về anh Đ thì anh Đ1 vẫn tiếp tục thu đất nuôi cá, c n đất thuộc về ch Ý thì hi ch Ý có y u cầu thì anh Đ1 sau hi thu hoạch xong đợt cá đang nuôi sẽ di dời dụng cụ chăn nuôi cá để trả đất lại cho ch Ý.
- Tại Công văn số 929/UBND-HC ngày 14/6/2023 của Ủy ban nhân dân huyện H cung cấp thông tin cho Tòa án có nội dung: “Thửa đất số 1472 tờ bản đồ 4 đất tọa lạc tại xã L, huyện H, t nh Đồng Tháp được Sở Tài nguy n và Môi trường t nh Đ ý cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguy n Hiền Đ có số bìa DC107240, số vào sổ đ a chính CS04841 ngày 30/12/2021 đúng trình tự, thủ tục. Nguồn gốc nhận chuyển nhượng từ bà L Nguy n Thuận Ý (đính èm hợp đồng chuyển nhượng, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Thửa đất 1476 tờ bản đồ số 4 đất tọa lạc tại xã L, huyện H, t nh Đồng Tháp được Sở Tài nguy n và Môi trường t nh Đ ý cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Thái Thành N1 có số bìa DB 668928, số vào sổ đ a chính CS04699 ngày 30/12/2021 đúng trình tự thủ tục. Nguồn gốc nhận chuyển nhượng từ ông L Văn T4 (đính èm hợp đồng chuyển nhượng, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Phần đất tuyến dân cư L, tờ bản đồ số 4 do Nhà nước quản lý, hông được xem cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
- Tại Công văn số 2950/CNVPĐKĐĐ ngày 07/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H cung cấp thông tin có nội dung: “Thửa 1472 tờ bản đồ số 4 đất tọa lạc tại xã L, huyện H, t nh Đồng Tháp. Người sử dụng đất chưa thực hiện việc đăng ý thế chấp quyền sử dụng đất; Thửa đất số 1476 tờ bản đồ số 4 đất tọa lạc tại xã L, huyện H, t nh Đồng Tháp. Người sử dụng đất đã đăng ý thế chấp quyền sử dụng đất tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh Đ2, đ a ch : H N, phường A, thành phố C, t nh Đồng Tháp”.
Tại Bản án sơ thẩm số 59/2023/DS-ST ngày 09/11/2023 của T a án nhân dân huyện Hồng Ngự đã quyết đ nh:
1. Không chấp nhận y u cầu của ch L Nguy n Thuận Ý, về việc y u cầu tuy n bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có số chứng thực 04/2020 quyển số I/2020-SCT/HĐ,GD ngày 06/01/2020 tại Ủy ban nhân dân xã L giữa ch Ý và anh Đ vô hiệu và hủy cập nhật t n anh Đ tr n giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản hác gắn liền với đất số CU 528564, số vào sổ cấp GCN: CS03837 được Sở Tài nguy n và Môi trường t nh Đ cấp ngày 24/12/2019.
(Kèm theo bi n bản xem x t thẩm đ nh tại chỗ ngày 24/02/2023 của T a án nhân dân huyện Hồng Ngự; Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 24/02/2023 và sơ đồ xác đ nh diện tích thửa đất của Chi nhánh Văn ph ng đăng ý đất đai huyện H, t nh Đồng Tháp).
Ngoài ra, bản án c n tuy n về án phí, chi phí xem x t thẩm đ nh tại chỗ và đ nh giá tài sản, quyền và thời hạn háng cáo, quyền, nghĩa vụ và thời hiệu thi hành án của các đương sự theo quy đ nh của pháp luật.
- Ngày 16/11/2023, bà L Nguy n Thuận Ý háng cáo y u cầu sửa bản án sơ thẩm số: 59/2023/DS-ST ngày 09 tháng 11 năm 2023 của T a án nhân dân huyện Hồng Ngự, t nh Đồng Tháp và tuy n xử chấp nhận các y u cầu hởi iện của bà Ý.
- Tại phi n t a phúc thẩm:
+ Bà L Nguy n Thuận ý trình bày: Bà ý giữ nguy n y u cầu háng cáo, y u cầu xem x t lại bản án sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm.
+ Ông Phạm Phú L trình bày: ng Đức giữ nguy n y u cầu, hông thỏa thuận được với bà Ý về việc giải quyết vụ án.
- Đại diện Viện iểm sát nhân dân t nh Đồng Tháp phát biểu ý iến về giải quyết vụ án:
+ Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng x t xử, Thư ý và các đương sự đều thực hiện đúng quy đ nh của pháp luật.
+ Về nội dung: Đề ngh hông chấp nhận y u cầu háng cáo của L Nguy n Thuận Ý, giữ nguy n bản án dân sự sơ thẩm.
Sau hi nghi n cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phi n t a và căn cứ vào ết quả tranh tụng tại phi n t a.
NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN:
[1] Bà L Nguy n Thuận Ý hởi iện ông Nguy n Hiền Đ, về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ, T a án nhân dân huyện Hồng Ngự thụ lý giải quyết là đúng quy đ nh của pháp luật. Bà Ý háng cáo trong thời hạn là hợp lệ. ng Đ ủy quyền cho ông Phạm Phú L thủ tục phù hợp n n chấp nhận. Những người có quyền lợi nghĩa vụ li n quan được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt n n x t xử theo quy đ nh.
[2] Nguồn gốc đất tranh chấp là của bà Ý diện tích 4.035,6m2 (đo đạc thực tế 3.015,7m2) thửa số 1472 tờ bản đồ số 4, giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho bà Ý ngày 24/12/2019; đất tại ấp L, xã L, huyện H, t nh Đồng Tháp. Bà Ý cho rằng việc ý hợp đồng là để vay số tiền 400.000.000đ n n hợp đồng là giả tạo, vì vậy y u cầu tuy n bố hợp đồng vô hiệu. ng Đ hông đồng ý theo y u cầu của bà Ý, vì hông có việc vay tiền và thực hiện hợp đồng giả tạo để bảo đảm hoản nợ vay.
Nhận thấy, bà Ý cho rằng có vay của ông Đ số tiền 400.000.000đ n n ông Đ y u cầu thế chấp QSDĐ để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ, nhưng thủ tục là hình thức hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ. Để chứng minh hợp đồng ngày 06/01/2020 là giao d ch giả tạo, thì bà Ý cung cấp nhiều hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa bà Ý và ông Đ, vợ ông Đ đối với các phần đất hác, nhưng đây là giao d ch hác hông li n quan đến việc thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất số 1472. Đồng thời, bà Ý ghi âm cuộc nói chuyện giữa bà Ý với ông Đ và cung cấp cho T a án đoạn ghi âm ngày 13/01/2022 để chứng minh cho y u cầu tuy n bố hợp đồng vô hiệu. Tuy nhi n qua xem x t nội dung của đoạn ghi âm ngày 13/01/2022 thì hông có thể hiện việc ông Đ thừa nhận bà Ý vay tiền của ông Đ thế chấp QSDĐ thửa số 1472, bằng hình thức hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ sang t n qua cho ông Đ, nhằm bảo đảm số tiền vay 400.000.000đ. Đồng thời bà Ý cũng hông cung cấp được chứng cứ chứng minh đã vay tiền và đóng lãi cho ông Đ. Nay ông Đ hông thừa nhận trình bày của bà Ý và cho rằng đã giao tiền chuyển nhượng QSDĐ cho bà Ý xong n n bà Ý mới lập thủ tục chuyển nhượng QSDĐ theo quy đ nh của pháp luật. Ngoài ra giá chuyển nhượng ghi trong hợp đồng 500.000.000đ cũng phù hợp với giá th trường vào thời điểm năm 2019.
X t hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 06/01/2020 giữa bà Ý và ông Đ là do hai b n hoàn toàn tự nguyện và được thực hiện thủ tục chứng thực số 04/2020 Quyển số 1/2020-SCT/HĐ-GD ngày 06/01/2020 của Ủy ban nhân dân xã L. Thực tế việc chuyển nhượng QSDĐ c n được thể hiện là bà Ý đã giao đất cho ông Đ nhận quản lý sử dụng (hiện ông Đ đang cho ông Đ1 thu đất) và bà Ý đã nhận tiền. Tại Công văn số 929/UBND-HC ngày 14/6/2023 của Ủy ban nhân dân huyện H ý iến như sau: Thửa đất số 1472 tờ bản đồ số 4; đất tại xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho ông Đ có số bìa DC 107240, số vào sổ địa chính CS04841 ngày 30/12/2021 đúng trình tự thủ tục. Nguồn gốc nhận chuyển nhượng từ bà Lê Nguyễn Thuận Ý.
Qua đó cho thấy hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa bà Ý và ông Đ xác lập phù hợp quy đ nh của pháp luật, được cơ quan có thẩm quyền công nhận và cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho ông Đ. Tại phi n t a phúc thẩm, bà Ý cũng hông cung cấp được chứng cứ mới chứng minh việc vay số tiền 400.000.000đ và đã đóng tiền lãi cho ông Đ, cũng hông cung cấp tài liệu chứng cứ nào hác để chứng minh hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ là giả tạo nhằm che giấu hợp đồng vay tài sản. Vì vậy háng cáo của bà Ý y u cầu tuy n bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 06/01/2020 là hông có cơ sở.
[4] Đại diện Viện iểm sát T nh đề ngh hông chấp nhận y u cầu háng cáo của bà Ý, giữ nguy n quyết đ nh của bản án dân sự sơ thẩm là có cơ sở n n chấp nhận.
T a án cấp sơ thẩm xử đã có căn cứ n n giữ nguy n quyết đ nh của bản án dân sự sơ thẩm, hông chấp nhận y u cầu háng cáo của bà Ý. Các phần hác hông có háng cáo, háng ngh có hiệu lực pháp luật.
[5] Án phí phúc thẩm: Bà Ý phải ch u 300.000đ.
Vì các lẽ tr n;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ hoản 3 Điều 26, điểm a hoản 1 Điều 35, điểm c hoản 1 Điều 39, hoản 1, 4 Điều 91, hoản 2 Điều 227, hoản 1 Điều 228, Điều 144, Điều 147, hoản 1 Điều 157, hoản 1 Điều 165, hoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 167, 168, 188 của Luật Đất đai năm 2013; các Điều 500, 501, 502, 503 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí T a án.
1. Không chấp nhận y u cầu háng cáo của bà L Nguy n Thuận Ý.
Giữ nguy n bản án dân sự sơ thẩm.
2. Không chấp nhận y u cầu của bà L Nguy n Thuận Ý, về việc y u cầu tuy n bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có số chứng thực 04/2020 quyển số I/2020-SCT/HĐ,GD ngày 06/01/2020 tại Ủy ban nhân dân xã L, giữa bà Ý và ông Đ vô hiệu và hủy cập nhật t n ông Đ tr n giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản hác gắn liền với đất, số CU 528564, số vào sổ cấp GCN: CS03837 được Sở Tài nguy n và Môi trường t nh Đ cấp ngày 24/12/2019.
(K m theo biên bản xem xét thẩm định tại ch ngày 24/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự; Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 24/02/2023 và sơ đồ xác định diện tích thửa đất của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, tỉnh Đồng Tháp).
2. Về chi phí xem x t thẩm đ nh tại chỗ và đ nh giá tài sản: Bà L Nguy n Thuận Ý ch u 5.148.000đ (bà Ý đã tạm ứng và chi xong).
3. Về án phí: Bà L Nguy n Thuận Ý ch u 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 600.000đ theo bi n lai thu số 0004238 ngày 27/01/2023 và bi n lai thu số 0004558 ngày 29/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự, t nh Đồng Tháp.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, y u cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuy n án./.
| Nơi nhận: - VKSND t nh Đồng Tháp; - Ph ng KTNV và THA TAND t nh ĐT; - TAND huyện Hồng Ngự; - Chi cục THADS huyện Hồng Ngự; - Đương sự; - Lưu: VT, HSVA, TDS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN T A Nguyễn Ngọc Vạng |